TS. Nguyễn Hữu Nguyên - đặc trưng văn hóa, giá trị văn hóa Việt Nam - Nhật Bản - tiếp cận từ lịch sử

Thông qua bức tranh lịch sử Việt-Nhật có thể nhận diện những đặc trưng và giá trị văn hóa của mỗi nước

TÌM HIỂU ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA, GIÁ TRỊ VĂN HÓA

 VIỆT NAM-NHẬT BẢN - TIẾP CẬN TỪ LỊCH SỬ

***

       Tóm tắt:
     Thông qua bức tranh lịch sử Việt-Nhật có thể nhận diện những đặc trưng và giá trị văn hóa của mỗi nước. Dòng văn hóa của giai cấp phong kiến Việt-Nhật có cùng thuộc tính phổ quát của ý thức hệ phong kiến, đó là tính bóc lột và cát cứ nhưng phong kiến Việt Nam ít cực đoan và trọng dân hơn. Dòng văn hóa của nhân dân Việt, Nhật có nhiều điểm tương đồng căn bản, đó là tinh thần chịu đựng gian khổ, năng động, sáng tạo nhưng người dân Nhật cam chịu và kín đáo hơn, người Việt có tính phản kháng cao hơn.

            Việt Nam và Nhật Bản đã từng có giao lưu văn hóa rất sớm nhưng cũng đã từng trải qua một chương đen tối khi chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản xâm lược Việt Nam và gây những tội ác lớn trong thế chiến thứ 2. Nhân dân hai nước đều là nạn nhân của chiến tranh do chủ nghĩa quân phiệt gây ra nên luôn ghi nhớ những mất mát đau thương to lớn và sẽ làm tất cả để nó không lặp lại, để chung sống hòa bình và hợp tác cùng phát triển.

            Từ khóa: đặc trưng văn hóa, giá trị văn hóa, bức tranh lịch sử, nhân dân, phong kiến, quân phiệt…

 Đặt vấn đề

            Việt Nam và Nhật Bản cùng nằm trong vùng địa văn hóa Á Châu, cùng chịu ảnh hưởng của văn hóa Phật giáo Trung Hoa, Ấn Độ… Đó là những yếu tố khách quan tạo ra những nét tương đồng về văn hóa. Tuy nhiên về địa lý tự nhiên, “địa nhân văn” và “địa chính trị” là những yếu tố tạo ra sự khác biệt về văn hóa. Bài viết này lựa chọn cách tiếp cận lịch sử nhưng không trình bày toàn bộ tiến trình văn hóa của mỗi nước mà chỉ nhìn tổng thể bức tranh lịch sử từ những biến cố lớn từ đó tìm hiểu sự phản ánh những nét “đặc trưng văn hóa” và “giá trị văn hóa” của riêng từng nước. Tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt về văn hóa của hai nước trong quá khứ và hiện tại để dự báo cho tương lai.

            Tìm hiểu đặc trưng và giá trị văn hóa thông qua bức tranh lịch sử chỉ là một cách tiếp cận góp phần làm phong phú hơn lĩnh vực nghiên cứu mối quan hệ Việt-Nhật. 

  1. Tìm hiểu khái niệm “đặc trưng văn hóa” và “giá trị văn hóa”

Nghiên cứu văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc nên hình dung nó như một bức tranh nhiều mảng màu đan xen và nhiều lớp bao phủ có thể tô đậm thêm cũng có thể làm mờ nhạt đi so với màu sắc trước đó.

Khái niệm “đặc trưng văn hóa” được hiểu là những màu sắc chủ đạo xuất hiện nhiều hơn trong bức tranh đa màu những màu sắc đó có thể phù hợp với dân tộc này nhưng không phù hợp với dân tộc khác nên không có chuẩn mực để so sánh về cấp độ cao thấp hay về thẩm mỹ. Ví dụ người này thích màu xanh lá, người kia thích màu tím Huế thì không phải là màu này đẹp hơn màu kia. Hoặc như phụ nữ châu Phi cảm thấy mình đẹp khi có nước da đen bóng, mái tóc xoăn tít và cặp môi thật dày trong khi người phụ nữ châu Âu lại thích có làn da trắng hồng, đôi mắt xanh biếc và mái tóc óng vàng…  Do đó về lĩnh vực thẩm mỹ mang tính chủ quan nhiều hơn tính khách quan. Như vậy, tìm hiểu “đặc trưng văn hóa” không nhằm so sánh cao thấp, hơn kém mà nhằm tìm hiểu những tương đồng và khác biệt.

Khái niệm “giá trị văn hóa” không bao gồm toàn bộ những “ đặc trưng văn hóa” mà là những đặc trưng gần nhất với “chân thiện mỹ”, cũng không phải là nét hoàn toàn riêng biệt mà là “cái đáng giá nhất” của một chủ thể. Ví dụ: giá trị của quả cam là vị ngọt, của quả chanh là vị chua, giá trị của nhà bác học là kiến thức và phát minh, giá trị của người nông dân là kỹ năng trồng lúa…Tuy nhiên, khái niệm giá trị cũng không hoàn toàn đồng nghĩa với “năng lực đặc biệt”, ví dụ: người có tài mở khóa để trộm xe thì gọi là có “biệt tài” nhưng đó không phải là “giá trị” của người đó vì giá trị sử dụng khác với giá trị thẩm mỹ và nhân văn.

Tóm lại, tìm hiểu đặc trưng văn hóa và giá trị văn hóa là hai cách nhìn khác nhau nhưng có mối quan hệ biện chứng và không hoàn toàn tách biệt nhau.

  1. Bức tranh lịch sử, đặc trưng và giá trị  văn hóa Việt Nam

Bức tranh lịch sử Việt Nam được phác họa từ những biến cố lớn sau đây:

Sau một ngàn năm bắc thuộc, Đại Việt giành được độc lập từ thế kỷ thứ X, đến thế kỷ XI, quân Tống xâm lược và bị nhà Lý đánh bại nhưng thời hậu Lý đất nước lại suy yếu do phong kiến bóc lột nhân dân thậm tệ nên đến thế kỷ XIII, quân Nguyên Mông kéo sang xâm lược. Nhà Trần ba lần đánh bại quân Nguyên bằng kế sách “khoan sức dân làm kế rễ sâu, gốc vững”. Nhưng hậu Trần lại suy vong và bị thay thế bằng nhà Hồ. Đến thế kỷ XV, quân Minh lại kéo sang xâm lược, nhanh chóng đánh bại nhà Hồ. Để đòi lại độc lập, Lê Lợi và Nguyễn Trãi đã lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ đánh đuổi 10 vạn quân Minh. Nhưng thời hậu Lê lại suy vong để nhà Mạc cướp ngôi từ đầu TK 16, mở ra thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh kéo dài 46 năm với 7 cuộc chiến tranh Nam-Bắc diễn ra ở khu vực hai bờ sông Ranh (thuộc địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình ngày nay). Đến cuối TK 18, phong trào Tây Sơn khởi nguồn từ cuộc khởi nghĩa nông dân ở Bình Định năm 1771 do Nguyễn Huệ lãnh đạo. Phong trào lớn mạnh nhanh chóng, đánh nam, dẹp bắc, diệt Xiêm, phá Thanh tạo tiền đề cơ bản cho thống nhất đất nước. Mấy năm sau Quang Trung qua đời, nhà Nguyễn chiếm lại thành quả đó và hoàn thành thống nhất đất nước vào năm 1802. Trong quá trình chống Tây Sơn, nhà Nguyễn đã cầu viện Pháp và hậu quả là đến giữa TK 19 thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, đặt nền cai trị gần 80 năm.

Đến giữa thế kỷ XX, những người cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân làm cuộc cách mạng tháng 8-1945 giành độc lập và sau đó lãnh đạo cuộc kháng chiến 30 năm đánh bại thực dân Pháp và đế quốc Mỹ thống nhất đất nước năm 1975. Ngay sau đó, Việt Nam rơi vào khủng hoảng kinh tế xã hội và phải đối phó với hai cuộc chiến tranh biên giới ở Tây-Nam và phía Bắc.

Đến 1986 Việt Nam bắt đầu thực hiện đổi mới và hội nhập, năm 1995 là thành viên của Asean và tham gia nhiều định chế thế giới đồng thời thực hiện chương trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020.

Bức tranh lịch sử Việt Nam có ba phân khúc rõ ràng: thời phong kiến-thuộc địa  và thời chiến tranh cách mạng do những người công sản lãnh đạo và thời đổi mới hội nhập, mỗi thời kỳ có những đặc trưng văn hoá và giá trị văn hóa riêng.

-Thời phong kiến thực dân:

Đối với giai cấp phong kiến, ngoài những thuộc tính cơ bản là bóc lột nông dân, tham quan ô lại thậm chí có kẻ bán nước cầu vinh nhưng mỗi khi đất nước bị xâm lăng, thành phần ưu tú của giai cấp phong kiến lại thể hiện những phẩm chất cao quý:

* Tự tôn dân tộc là nét văn hóa nổi bật nhất. Tinh thần đó thể hiện từ “tuyên ngôn độc lập” đầu tiên với lời tuyên bố đanh thép: “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư…” đến “Hịch tướng sĩ” của Trần Hưng Đạo, “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi…đến lời cảnh cáo hùng hồn của Quang Trung:  “đánh cho Nam quốc sơn hà chi hữu chủ”… ngay cả vị hoàng đế cuối cùng là Bảo Đại, khi thoái vị, trao vương quyền cho cách mạng cũng đã nói “Trẫm muốn được làm dân của một nước tự do, hơn làm vua của một nước bị trị”

* Ý chí chống ngoại xâm thể hiện qua sự xuất hiện những anh hùng chống ngoại xâm kiệt xuất từ Đinh Tiên Hoàng, Lý Thường Kiệt, Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung… đến những dũng tướng nhà Nguyễn chống Pháp như Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương, Trương Định… Họ thuộc giai cấp phong kiến, là quan lại, vua chúa trong triều đình nhưng họ không phải là các lãnh chúa tàn bạo. Sự bao dung còn thể hiện ngay cả đối với binh lính của đội quân xâm lược, khi họ đã đầu hàng thì không giết hại mà còn cấp lương thực và thuyền bè cho họ trở về nước.

*Tinh thần trọng dân thể hiện rất rõ qua kế sách giữ nước có từ nhà Trần “khoan sức dân là kế rễ sâu, gốc vững”. Trong hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo có ghi: “Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết, được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười” đó là mối quan hệ “Phụ tử chi binh”

            Đối với nhân dân Đại Việt:

*Đoàn kết một lòng chống ngoại xâm là nét văn hóa nổi bật nhất tất cả các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đều là “chiến tranh nhân dân”, “trăm họ đánh giặc” người dân Đại Việt còn thể hiện tinh thần đoàn kết ở “hội nghị Bình Than, hội nghị Diên Hồng” đó là biểu tượng đại đoàn kết của một dân tộc có bề dày lịch sử chống ngoại xâm.

*Năng động sáng tạo vừa là nét văn hóa, vừa là năng lực đặc biệt của nhân dân Đại Việt. Để chiến thắng những đối thủ lớn mạnh hơn nhiều lần thì người dân Đại Việt phải có lòng dũng cảm phi thường và trí thông minh sáng tạo vượt trội hơn sức mạnh vật chất của kẻ thù.

            Như vậy, đặc trưng văn hóa đồng thời là giá trị văn hóa Việt Nam thời phong kiến là tinh thần đoàn kết dân tộc, ý chí kiên cường chống ngoại xâm và tài năng quân sự.

            -Thời kỳ kháng chiến chống thực dân phương Tây dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản: là sự kế thừa và phát huy đến đỉnh cao những đặc trưng và giá trị văn hóa của lịch sử chống ngoại xâm phương Bắc đó là tinh thần dân chủ kiểu mới, tinh thần bình đẳng, bác ái được đề cao, hầu như không còn phân chia đẳng cấp. Đặc trưng văn hóa và giá trị văn hóa Việt Nam thời kỳ này là sức mạnh để đánh bại hai thế lực thực dân đế quốc mạnh nhất thế giới.

            - Thời kỳ xây dựng đất nước, hội nhập, kinh tế thị trường: đặc trưng văn hóa Việt Nam là sự đan xen những nét văn hóa tốt đẹp cùng với sự “xuống cấp” về đạo đức, lối sống ở đô thị và một bộ phận quan chức tha hóa trong khi những những giá trị văn hóa truyền thống lại tồn tại dưới dạng tiềm ấn trong chủ nhân của nền văn hóa là nông dân, công nhân, trí thức và những người lao động chân chính. Đặc trưng và giá trị văn hóa của thành phần chủ nhân xã hội chưa có dấu hiệu “xuống cấp”mà ngược lại tinh thần chịu đựng gian khó, hy sinh vẫn rất cao cả mặc dù là bộ phận “thiệt thòi và yếu thế” nhưng chính họ đã đưa Việt Nam từ nước nông nghiệp lạc hậu trở thành nước xuất cảng gạo đứng thứ 2 thế giới, và là lực lượng lao động chính trong công cuộc CNH-HĐH.

            Nhìn lải cả ba phân khúc lịch sử, những đặc trưng và giá trị văn hóa Việt Nam chỉ thay đổi trạng thái và hình thức thể hiện mà không thay đổi bản sắc.

  1. Bức tranh lịch sử, đặc trưng và  giá trị  văn hóa Nhật Bản.

Có thể phác họa bức tranh lịch sử Nhật Bản bằng những bước ngoặt quan trọng sau đây:

Nước Nhật có sử liệu từ năm 660 TCN, theo đó, đến TK VI, người Nhật bắt đầu chịu ảnh hưởng văn hóa Trung hoa kể cả chữ viết, thậm chí còn coi người Trung hoa là kiểu mẫu. Từ TK IX-X là thời kỳ cát cứ của các lãnh chúa nên các gia tộc quyền quý có gia sản rất lớn. TK XII, Thiên Hoàng đi theo con đường tu hành, rời xa thế tục, buông lỏng quản lý xã hội nên dân tình ly tán.

Thời đại phong kiến Nhật Bản bắt đầu từ năm 1185, thế lực của chiến binh Samurai rất hùng mạnh. Từ 1272 đến 1281 Nhật Bản phải chống lại hai lần tấn công của quân Mông Cổ, tuy thắng trận nhưng sau đó rơi vào tình trạng chia rẽ của hai cánh Hoàng gia, kéo dài hơn trăm năm (đến năm 1392). Từ 1467-1477 là thời kỳ loạn lạc tương tàn.

Từ đầu TK XVI, Nhật Bản bắt đầu tiếp xúc với phương Tây qua người Bồ Đào Nha. Đến năm 1549, KyTô giáo du nhập vào Nhật Bản lúc đầu được chào đón nồng nhiệt nhưng sau hơn 70 năm đến năm 1620 thì Nhật Bản đã tiêu diệt tất cả những người Ky tô giáo. Tiếp theo là thời kỳ Edo bắt đầu từ 1603, nước Nhật cố gắng “thoát Trung” để tiếp thu văn hóa và khoa học kỹ thuật phương Tây nhưng sau đó lại thực hiện chính sách “tỏa quốc” tức là bế quan tỏa cảng cho đến 1868.

Thời đại “đế quốc Nhật Bản” từ 1868 đến 1945:  trải qua ba triều đại: thời Minh Trị từ 1868 đến 1912, thời Đại Chính từ 1912 đến 1926, thời Châu Hóa từ 1927 đến 1945.

Từ 1889 nước Nhật đã có “Đại Nhật Bản đế quốc hiến pháp” đến khi bản hiến pháp đó được chính thức áp dụng thì nước Nhật đứng trong trục Phát xit cùng với Đức, Ý để phát động cuộc chiến tranh thế giới thứ 2. Nhật Bản xâm lược Trung quốc, Triều Tiên và Đông Nam Á trong đó có Việt Nam. Thời kỳ này chủ nghĩa quân phiệt Nhật gây rất nhiều tội ác chiến tranh ở châu Á như: tàn sát dân thường, bắt phụ nữ các nước Trung Quốc, Triều Tiên làm nô lệ tình dục cho binh lính Nhật. Riêng ở Việt Nam, họ phá lúa để trồng cây đay phục vụ cho quân Nhật, họ đốt thóc để chạy máy tàu… nên đã gây ra nạn đói năm 1944-1945 làm chết hơn 2 triệu người dân Việt Nam, sự kiện này toàn thế giới đều biết rõ qua tuyên ngôn độc lập của VN do Hồ Chí Minh tuyên đọc ngày 2-9-1945 tại Hà Nội.

Từ 1945 đến nay, nước Nhật chịu nhiều tổn thất lớn lao về nhiều mặt: là nước thua trận trong thế chiến thứ 2, bị ném bom nguyên tử hủy diệt hai thành phố với khoảng 200 ngàn dân thiệt mạng, đến năm 2011 nước Nhật lại bị động đất, sóng thần làm chết và mất tích khoảng 20 ngàn người, bị thương gần 10 ngàn người, thiệt hại kinh tế và hạ tầng khoảng hơn 300 tỷ USD…Thế nhưng nước Nhật đã vươn lên trở thành nền kinh tế lớn thứ 3 thế giới, có trình độ khoa học công nghệ đứng hàng đầu thế giới. Tuy nhiên về địa chính trị, sự lệ thuộc vào Mỹ thể hiện rõ ở Hiệp ước an ninh Nhật-Mỹ, nước Nhật chấp nhận đứng dưới sự bảo hộ của chiếc ô hạt nhân Mỹ...và trong cuộc chiến tranh Việt-Mỹ, Nhật Bản là đồng minh chính trị của Mỹ.

Đó là bức tranh lịch sử khách quan của Nhật Bản nhưng cũng như Việt Nam, có hai dòng chảy văn hóa một dòng văn hóa của giới chính trị, thượng lưu và một dòng văn hóa của nhân dân Nhật Bản. Hai dòng ấy cùng chảy trong một con sông nhưng không hòa quyện làm một, cũng không tách biệt như hai dòng chảy ngược chiều nhau.

-Với dòng văn hóa của giới chính trị cầm quyền có thể nhận thấy nét nổi bật nhất là tính cực đoan - thể hiện trên nhiều mặt:

Trước hết là hiện tượng cát cứ kéo dài của rất nhiều lãnh chúa, họ luôn tìm cách diệt trừ lẫn nhau một cách không thương tiếc trong đó đặc điểm địa lý của quốc gia ngàn đảo là một trong những yếu tố khách quan tạo điều kiện cho cát cứ lâu dài.

Tính cực đoan còn thể hiện ở tầng lớp võ sĩ đạo chiến binh Samurai cuộc đời và suy nghĩ của tầng lớp này dường như luôn gắn liền với thanh kiếm họ có thể tự mổ bụng để giữ danh dự của võ sĩ đạo.

Tính cực đoan cũng thể hiện rõ ở sự kiện bài trừ Ky tô giáo một cách triệt để đến mức tàn nhẫn, sau đó là chủ trương “thoát trung” và “tỏa quốc” cũng rất quyết liệt.

Tính cực đoan phát triển đến đỉnh cao đã đưa nước Nhật đến chủ nghĩa quân phiệt-phát xít và trong chiến tranh thế giới lần thứ 2, dường như quân đội Nhật chiến đấu với tinh thần của võ sĩ đạo và các chiến binh Samurai ? - quyết liệt và tàn bạo.

Tuy nhiên, tính cực đoan khi ở trong những hoàn cảnh nhất định lại có thể biến thành ý chí sắt đá để thực hiện mục đích và đó lại trở thành giá trị để nước nhật đứng dậy và vươn cao từ đống tro tàn của chiến tranh.

-Với dòng văn hóa của nhân dân Nhật Bản: nổi bật nhất là khả năng chịu đựng, vượt khó và sáng tạo. Những đặc trưng ấy được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử cổ trung đại-trong hoàn cảnh các lãnh chúa cát cứ đã vắt kiệt sức dân cho chiến tranh  giành lãnh thổ, nhân dân Nhật Bản đã chịu đựng tất cả và đã vượt qua.

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Nhật Bản không những là nước thua trận mà còn bị tàn phá bằng bom nguyên tử và bị chiếm đóng nhưng nhân dân Nhật đã chịu đựng một cách bền bỉ và đã vượt qua nhiều biến cố rất khó khăn để xây dựng lại đất nước đưa nước Nhật trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, có trình độ khoa học công nghệ hàng đầu thế giới.

Đặc trưng văn hóa ấy lại một lần nữa được chứng minh trong thảm họa động đất, sóng thần năm 2011 cả thế giới rất khâm phục khả năng chịu đựng, vượt khó, sáng tạo và ý chí xây dựng lại cuộc sống của người Nhật. Những đặc trưng đó chứng tỏ nhân dân Nhật Bản là một cộng đồng có ý chí rất kiên cường.

Như vậy “giá trị văn hóa” Nhật Bản phần lớn thuộc về dòng văn hóa của nhân dân-đó là ý chí kiên cường, khả năng chịu đựng, vượt khó và sáng tạo  

3-Quá khứ và hiện tại định hướng tương lai mối quan hệ văn hóa Việt-Nhật

            Những tìm hiểu về đặc trưng và giá trị văn hóa của Việt Nam và Nhật Bản không nhằm để so sánh cao-thấp hay hơn kém-mà nhằm hiểu rõ quá khứ, hiện tại, làm cơ sở dự báo cho tương lại. Phép biện chứng trong nghiên cứu chỉ ra rằng: khi nghiên cứu một sự vật phải bảo đảm đầy đủ bốn tính chất: tính cụ thể, tính toàn diện, tính lịch sử và tính phát triển. Tính cụ thể được mô tả bằng những biến cố lịch sử của mỗi nước, tính toàn diện là xem xét cả hai dòng văn hóa của nhân dân và của giới cầm quyền, tính lịch sử là tìm hiểu đặc trưng văn hóa của mỗi nước trong từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể-còn tính phát triển là những dự báo về sự biến đổi của hoàn cảnh lịch sử. Đó sẽ là cơ sở cho những mối quan hệ mới-nhưng lịch sử luôn có tính kế thừa-như một dòng sông sẽ có thể thay đổi dòng chảy nhưng nguồn nước không đổi thay nhiều…

            Những biến cố lịch sử của mỗi nước trước năm 1975 đã được trình bày cụ thể-nhất là mối quan hệ giữa hai nước từ 1944 đến 1975 thực sự là một chương đen tối mà cả hai bên đều không thể quên -nhưng mục đích của sự ghi nhớ không phải để giữ mãi hận thù-mà như thủ tướng Nhật-ông Abê đã từng nói: nước nhật không quên thảm họa của hai quả bom nguyên tử do Mỹ ném xuống Hyrosima và Nagasaki và làm tất cả để nó không xảy ra trong tương lai- nhân dân VN cũng nói như thế về nạn đói do quân Nhật gây ra đã giết chết hơn hai triệu người năm 1944-1945.

            Từ khi VN thống nhất, mở cửa và hội nhập thì mối quan hệ giữa hai nước được cải thiện rất nhanh-Nhật trở thành nước giúp đỡ kinh tế VN lớn nhất thông quan đầu tư ODA, đồng thời mối quan hệ văn hóa, xã hội cũng cởi mở hơn rất nhiều-nhất là giữa nhân dân hai nước. Sự hợp tác và giao lưu văn hóa giữa hai nước được cải thiện theo chiều hướng tích cực và nhanh chóng hoàn toàn có cơ sở vì đó là sự tương đồng văn hóa giữa nhân dân hai nước:

            Về tính cách, người Việt và Nhật đều có đức tính chịu đựng gian khổ rất cao, nhưng người Việt có xu hướng dễ bộc lộ và tinh thền phản kháng mạnh hơn, Người Nhật kín đáo hơn, ít bộc lộ cảm xúc hơn-điều đó được phản ánh trong cả sự khác nhau của sắc thái văn học, nghệ thuật và mối quan hệ gia đình (ví dụ: loại hình sân khấu Nô và Tuồng)  

            Về năng lực: người Việt và Nhật đều có đức tính cần cù, khéo léo, tiếp thu nhanh, đều giỏi về hoạt động quân sự. Người Nhật thiên về kỹ thuật, công nghiệp, người Việt thiên về nông nghiệp.

            Về tín ngưỡng, người Nhật và người Việt đều thiên về Phật giáo nhiều hơn các tôn giáo khác.

            Như vậy, nếu nhìn từ góc độ là hai nền văn hóa thuộc phương Đông thì nhân dân Việt Nam và Nhật Bản có nhiều nét tương đồng rất căn bản, đồng thời có những nét khác biệt nhưng không mang tính đối kháng, hoặc loại trừ nhau mà hoàn toàn có thể bổ sung làm nên sự đa dạng, phong phú. Như vậy, nhân dân Việt Nam và Nhật Bản hoàn toàn có thể chung sống trong hòa bình và hữu nghị để cùng giúp đỡ nhau xây dựng đất nước và bảo vệ bản sắc văn hóa của dân tộc mình - nếu như thế giới không tiếp tục diễn ra những mưu toan địa chính trị của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi như đã từng xảy ra trong quá khứ.

TS. Nguyễn Hữu Nguyên

Tài liệu tham khảo

1-       VI.m.Wikipedia.org-Lịch sử Nhật Bản.

2-       Hà Văn Thư,Trần Hồng Đức: Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam, Nxb. Văn hóa-Thông tin,HN, 1996.

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.