TS. Nguyễn Hữu Nguyên. Tìm hiểu khả năng của giáo dục và nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao

Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhu cầu cấp bách đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu vào kinh tế thế giới. Tuy nhiên, vấn đề là năng lực đào tạo thực tế của Việt Nam để đáp ứng được nhu cầu đó.


Đặt vấn đề:

          Nguồn nhân lực chất lượng cao là nhu cầu cấp bách đối với Việt Nam trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu vào kinh tế thế giới nhưng đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao lại là một quá trình lâu dài như câu nói của người xưa mà Bác Hồ đã nhắc: “…vì lợi ích trăm năm trồng người”. Vậy muốn tìm hiểu khả năng đáp ứng thì phải xác định trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay so với thế giới và so với mục tiêu đề ra, đồng thời xác định năng lực thực tế của giáo dục đào tạo.

1- Trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam hiện nay so với thế giới và mục tiêu đề ra

Trình độ phát triển kinh tế của một nước được tính bằng những yếu tố cơ bản như: thu nhập GDP bình quân đầu người, trình độ công nghiệp hóa, năng suất lao động, trình độ của đội ngũ khoa học kỹ thuật.

-Về thu nhập GDP bình quân đầu người: theo WB, thế giới chia làm 4 nhóm: thu nhập thấp (có 40 nước dưới 995 USD), trung bình thấp (58 nước từ 996 đến 3.465 USD), trung bình cao (48 nước từ 3.466 đến 10.725 USD), thu nhập cao (69 nước trên 10.726 USD). Theo đó thì Việt Nam thuộc nhóm thu nhập trung bình thấp vì mới đạt 1.960 USD/người năm 2013 và đang ở nhóm thứ 2 tính từ dưới lên.(1)

-Về trình độ công nghiệp hóa: theo cách phân loại, đánh giá của tổ chức K.Ohno có 4 bậc: bậc 1 thấp nhất có khả năng thu hút FDI ban đầu, sản xuất giản đơn dưới sự hướng dẫn của nước ngoài, Việt Nam đang ở bậc này. Bậc thứ 2 có khả năng: nội địa hóa linh phụ kiện, công nghiệp phụ trợ hình thành nhưng vẫn cần nước ngoài hướng dẫn như Thái Lan, Malaysia… Bậc 3 có khả năng: nội địa hóa kỹ năng và công nghệ, làm chủ công nghệ và quản lý, sản xuất hàng chất lượng cao như Hàn Quốc, Đài Loan… Bậc 4 có khả năng: nội địa hóa sáng chế, sáng tạo, thiết kế, chế tạo đứng đầu thế giới như Mỹ, Nhật, EU...

Về năng suất lao động: theo đánh giá của tổ chức lao động quốc tế ILO  năm 2013 Việ Nam thuộc nhóm thấp nhất châu Á Thái Bình Dương. Năng suất lao động bình quân của Asean năm 2013 là 10,812 thì của Việt Nam là 3,9 theo đó thấp hơn Singapore 15 lần, Nhật 11 lần, Hàn Quốc 10 lần, Malaysia 5 lần, Thái Lan 2,5 lần và thấp hơn cả nước Lào (2). Các chỉ số so sánh này là cách tính năng xuất lao động tổng thể toàn xã hội là phép chia dân số trên GDP chứ không phải là đánh giá kỹ năng làm việc cụ thể của nhóm người này so với nhóm khác khi thực hiện cùng một công việc với cùng một công nghệ. Nếu so như thế thì người Việt Nam không thua kém, cụ thể là đã từng đạt giải nhất toàn đoàn trong cuộc thi tay nghề của Asean. Như vậy năng suất lao động xã hội còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác như: trình độ công nghệ, trình độ quản lý, chính sách an sinh xã hội, môi trường xã hội, môi trường thiên nhiên, đời sống văn hóa của con người…

-Về trình độ của nguồn nhân lực: có ba bộ phận

Đối với bộ phận lao động trực tiếp là nông dân và công nhân, tỷ lệ qua đào tạo rất thấp, phần nhiều chỉ có khả năng lao động giản đơn và đang nằm trong nhóm “thiệt thòi và yếu thế”.

Đối với bộ phận được đào tạo bậc đại học, phần lớn phải đào tạo lại khi được nhận vào các công ty đúng như GS.TS Võ Tòng Xuân đã nhận xét: “...nhiều sinh viên ra trường chưa sử dụng được máy vi tính, không biết cách viết thư, tiếp khách hoặc lưu trữ hồ sơ…”.

Đối với bộ phận có trình độ trên đại học: Việt Nam có 24.300 GS. TS đông nhất so với các nước ĐNA và gấp 5 lần Nhật Bản … nhưng công tình nghiên cứu và phát minh tầm khu vực và quốc tế lại ít nhất và chưa có trường nào đứng trong tốp 500 trường đại học trên thế giới.

Tóm lại, trên cả ba lĩnh vực chủ yếu phản ánh trình độ phát triển của Việt Nam đều đứng ở thứ bậc rất thấp. Tuy nhiên mục tiêu của Việt Nam lại rất cao, cụ thể là đến năm 2020 trở thành nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại tức là phải ở trình độ phát triển trên trung bình so với khu vực và thế giới. Vậy khả năng của GD - ĐT có thể đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho sự phát triển có tính nhảy vọt đó không ?        

2. Khả năng thực tế của GD - ĐT về đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực

          Nguồn nhân lực chất lượng cao tùy thuộc phần lớn vào khả năng của ngành   GD- ĐT. Nhưng Bộ trưởng GD - ĐT đã thừa nhận  “Bộ GD ĐT có một phần trách nhiệm khi chất lượng đào tạo chưa tốt, nhiều SV chưa đáp ứng được đòi hỏi của cơ quan tuyển dụng, đặc biệt là tiếng Anh, tin học…”. Thực ra không phải chỉ có “một phần trách nhiệm ” mà là “phần lớn trách nhiệm” đưa đến chất lượng đào tạo chưa tốt vì hiện nay GD - ĐT đang tồn tại những nghịch lý ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng nguồn nhân lực:

-Nghịch lý lớn nhất là đào tạo nhiều, chất lượng thấp. Theo số liệu công khai trên các trang mạng: quý I/2015 cả nước có gần 280.000 thạc sỹ, cử nhân thất nghiệp  (177.700 đại học và trên đại học, 100.000 cao đẳng) tăng hơn so với 2014. Bộ GD - ĐT cũng đưa ra con số 40% sinh viên ra trường 3 tháng sau chưa kiếm được việc làm, các doanh nghiệp cho rằng điều đó phản ánh đúng năng lực sinh viên hiện nay. Như vậy, số lượng SV thất nghiệp cao không phải do “thừa chất lượng cao” mà ngược lại là do không đáp ứng nhu cầu chất lượng cho các cơ sở sản xuất. Chỉ tính riêng trên địa bàn TP. HCM hiện có 52 trường đại học, 25 trường cao đẳng chuyên nghiệp, 12 trường cao đẳng nghề, 41 trường trung cấp chuyên nghiệp, 26 trung tâm dạy nghề hàng năm đào tạo được 150.000 người trong đó gần một nửa (70.000) tốt nghiệp đại học và cao đẳng… Nhưng các doanh nhiệp vẫn phải đào tạo lại rất nhiều mới có thể làm việc được (số liệu của Sở LĐTBXH TP. HCM). Một thực tế khác phản ánh chất lượng thấp của nguồn nhân lực là Việt Nam có 24.300 GS, TS nhiều nhất Đông Nam Á nhưng đề tài nghiên cứu và phát minh lại ít nhất…Việt Nam có 412 đại học và cao đẳng nhưng chưa có mặt trong tốp 500 trường đại học của thế giới. Những nghịch lý đó chỉ có thể giải thích bằng sự hạn chế về khả năng của ngành GD - ĐT cùng với khả năng quản lý phát triển xã hội ở tầng vĩ mô.  

Nguyên nhân của nghịch lý này đã được các nhà khoa học vạch ra từ lâu đó là chương trình giáo dục vượt qúa sức tiếp thu của các lứa tuổi trung học, cách dạy “nhồi nhét” kiến thức nhằm đạt chỉ tiêu, thành tích… học thêm, dạy thêm …đã làm cho tuổi trẻ bị quá tải về nhận thức, mất dần khả năng sáng tạo nên khi học lên cao hơn hoặc bước vào thị trường lao động thì thiếu khả năng thích ứng.  

          Về chính sách xã hội: giáo dục đào tạo được xác định là “quốc sách” nhưng khi thực hiện việc tăng học phí và nhiều khoản đóng góp thì hệ quả tất yếu sẽ là giảm số người được đi học và rút ngắn thời gian được đào tạo do đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn. Cụ thể như ở ĐBSCL, năm học 2012-2013 có đến 35.573 học sinh THPT phải bỏ học.

Thực tế nêu trên cho thấy từ chính sách, nội dung và phương pháp giáo dục đều là nguyên nhân tạo ra nghịch lý: đào tạo nhiều nhưng chất lượng thấp.  

          -Nghịch lý thứ hai là: đề án “đổi mới căn bản và toàn diện GDĐT” có 10 nội dung nhưng thiếu các giải pháp cụ thể nên khó tạo ra đột phá về chất lượng.Cụ thể có  các nội dung như sau:

-“Giáo dục là quốc sách hàng đầu, có sứ mệnh nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục – đào tạo, chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học, học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tế”.

-…Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ chất lượng hiệu quả giáo dục, đào tạo…đến 2030…đạt trình độ tiên tiến trong khu vực…phát huy tốt nhất khả năng sang tạo của cá nhân…sống tốt và làm việc hiệu quả,

-Đổi mới căn bản hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả…bảo đảm trung thực, khách quan.

-Hoàn thiện hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời, xây dựng xã hội học tập.

-Đổi mới căn bản công tác quản lý GDĐT, bảo đảm dân chủ, thống nhất, tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở GDĐT, coi trọng quản lý chất lượng.

-Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu…

-Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia, đóng góp của toàn xã hội…

  -Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt khoa học giáo dục và quản lý.

-Chủ động hội nhập, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế…

-Xây dựng, tích cực triển khai chiến lược phát triển nguồn nhân lực…

          Sau đây là phân tích tính khả thi của những nội dung chính:

-Nội dung thứ nhất, không phải là sự đổi mới vì vấn đề đào tạo con người toàn diện (đức tài), học đi đôi với hành là vấn đề loài người đã biết từ rất sớm. Từ xa xưa VN đã có câu “tiên học lễ, hậu học văn” (lễ là đức, văn là tài, là kiến thức). Từ thời nhà Lý đã xác định “Hiền tài” là nguyên khí quốc gia. Thời đại Hồ Chí Minh, tiêu chuẩn cán bộ là “vừa hồng vừa chuyên”, lý luận gắn với hành động… Như vậy vấn đề hôm nay không phải là nhắc lại các quan điểm đó mà cần vạch ra nguyên nhân vì sao chưa làm được và giải pháp khắc phục.

-Nội dung thứ hai nêu ra yêu cầu: đến 2030 đạt trình độ tiên tiến khu vực là thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn vì cần phải tính thời gian bao lâu để khắc phục “sức ỳ” rất lớn của GD - ĐT ngày nay và thời gian bao lâu để đuổi kịp các nước trong khu vực-trong khi họ có tốc độ phát triển nhanh hơn?

-Nội dung thứ ba đổi mới cách kiểm tra và tổ chức kỳ thi…hãy nhìn cuộc thử nghiệm đầu tiên là kỳ thi 2015 sẽ thấy đã bộc lộ rất nhiều bất hợp lý, có chuyên gia đã đánh giá “thất bại từ đầu” vì chỉ thay đổi kỹ thuật tổ chức thi không thay đổi chất lượng kiến thức … Sự thay đổi bỏ cho điểm đối với tiểu học đã có kết quả là nhiều học sinh điểm 1 và 2 trong kỳ kiểm tra chất lượng vào lớp 6.

Các nội dung còn lại của đề án đều là những nhiệm vụ thường xuyên của ngành GD ĐT nhưng chưa làm tốt nên chỉ thêm như cụm từ: đổi mới, tăng cường, đẩy mạnh… mà không nêu biện pháp thì nó không thể tự nâng cao chất lượng.

Tóm lại, nhìn toàn bộ nội dung của đề án đổi mới giáo dục mang tính chất “sửa sai” nhiều hơn và thiếu tính đột phá vì các nội dung không mới. Nói cách khác, Bộ GD - ĐT như “bộ máy cái” chế tạo nguồn nhân lực nhưng đề án đổi mới của Bộ đưa ra lại chưa thuyết phục và ngay từ khi mới thực hiện đã bộc lộ khá nhiều bất cập. Đó là những dự báo không lạc quan cho khả năng đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao.

3. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nên bắt đầu từ đâu ?

Tất nhiên là phải bắt đầu từ GD -  ĐT nhưng đổi mới giáo dục nên bắt đầu từ những khâu yếu và thiếu nhất mà không nên bằng cách đặt ra những chỉ tiêu thật cao. Muốn biết đâu là khâu yếu nhất để tìm ra khâu thiếu nhất có thể tham khảo nhận xét của một chuyên gia (ông Nguyễn Mạnh Hà - chủ tịch HĐQT công ty cổ phần đẩu tư giáo dục Think Big Group, công ty đào tạo kỹ năng tư duy mềm) vì ông đã tiếp xúc với 30.000 SV trên toàn quốc: “…rất nhiều em chưa xác định được mục tiêu khi vào đại học…tư tưởng học cho có tấm bằng rồi tính tiếp là rất phổ biến…” và ông đưa ra lời khuyên: “Đừng ngồi đó chờ đợi và than vãn, hãy đứng lên và kiên trì tìm kiếm tất cả những cơ hội xung quanh..”.  có lẽ sự “mất phương hướng và thụ động” đó không hoàn toàn do lỗi của SV mà phải chăng bắt nguồn từ một nền giáo dục còn thiếu một triết lý sâu sắc về đào tạo con người.

Để nhận thức về triết lý giáo dục có thể tìm hiểu từ thực tế lịch sử Việt Nam:  ở thời phong kiến, giáo dục Việt Nam theo Nho học nhưng chính những trí thức ưu tú đã ý thức được tinh thần dân tộc và đứng lên lãnh đạo nhân dân kháng chiến chống xâm lược phương bắc. Đến lịch sử hiện đại, giáo dục Việt Nam theo Tây học nhưng cũng chính những trí thức ưu tú đã trở thành những người cộng sản lãnh đạo cách mạng và kháng chiến chống thực dân đế quốc phương Tây để bảo vệ độc lập dân tộc…Thực tế đó tưởng như một nghịch lý nhưng từ đó suy ra triết lý giáo dục: trang bị kiến thức khoa học để có khả năng tư duy độc lập, tự nhận thức và tự chủ hành động không phải chỉ là quá trình “cài đặt” kiến thức cho con người. Sinh viên Việt Nam ngày nay chưa biết đi học để làm gì và rất thụ động phải chăng đó là hệ quả của GD - ĐT thiếu triết lý nên vẫn theo cách vừa nhồi nhét, vừa áp đặt (Học sinh và sinh viên Việt Nam không dám đặt câu hỏi với thầy cô...) nên thiếu khả năng tư duy độc lập và thiếu tự chủ, linh hoạt trong hành động.

Triết lý giáo dục còn bao hàm “đạo đức giáo dục” và “giáo dục đạo đức” nhằm cân bằng giữa con người kiến thức và con người nhân văn. Đây là hai vấn đề có mối quan hệ biện chứng phải có đạo đức giáo dục và tinh thần dân chủ mới có thể giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ. Đây cũng là khâu còn đang thiếu trong GD - ĐT hiện nay. Thực tế là từ học sinh tiểu học đã biết phải đi học thêm chính thầy cô đang dạy mình, biết nhắc cha mẹ mua quà biếu thầy, cô, điều đó đang hủy hoại truyền thống “tôn Sư trọng Đạo”.

Cụ thể hóa triết lý giáo dục còn là điều chỉnh khối lượng kiến thức trong sách giáo khoa cho phù hợp với khả năng tiếp thu của từng lứa tuổi, điều này có tác dụng tránh quá tải nhận thức, đồng thời loại bỏ được cách dạy nhồi nhét, áp đặt do áp lực của bệnh thành tích, tạo điều kiện để loại bỏ tình trạng dạy thêm, học thêm và thương mại hóa giáo dục.

Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất trong việc thực hiện là đang có khoảng cách rất xa giữa “nói và làm”…Ở tầm vĩ mô là “đổi mới căn bản và toàn diện…” nhưng ở các trường cơ sở, học sinh vẫn bị ép học thêm, vẫn tăng học phí và các khoản đóng góp, vẫn quy định “chỉ tiêu thành tích” cho các trường , vẫn phải quà cáp cho thầy cô, phong bì cho hội đồng…và ngay cả cấp Bộ cũng “tính nhầm” hàng ngàn tỷ đồng cho đề án đổi mới giáo dục thì nhân dân chưa có cơ sở để tin vào khả năng có thể “đổi mới căn bản và toàn diện GD, ĐT” và khả năng nhanh chóng tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.    

Chú thích:

(1)  Viện chiến lược phát triển “Tái cơ cấu kinh tế để phục hồi tốc độ tăng trưởng”-NXB khoa hôc xã hội-Hà Nội 2014- Tr 14

(2)  Sđd- tr 45

Tài liệu tham khảo

  1. Viện chiến lược phát triển (Bộ KHĐT):”Tái cơ cấu kinh tế để phục hồi tốc độ tăng trưởng”-NXB khoa học xã hội- Hà Nội-2014
  2. Trang Web bộ GDĐT và các địa phương 

TS. Nguyễn Hữu Nguyên

Trung tâm NCCL&CSQG


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.