TS. Nguyễn Hữu Nguyên – “Thời đại Hồ Chí Minh” và những di sản vô giá

“Thời đại Hồ Chí Minh” là cụm từ đã rất quen thuộc ở Việt Nam nhưng chưa trở thành phổ biến trên thế giới. 

THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH”

VÀ NHỮNG DI SẢN VÔ GIÁ

TS. Nguyễn Hữu Nguyên

 “Thời đại Hồ Chí Minh” là cụm từ đã rất quen thuộc ở Việt Nam nhưng chưa trở thành phổ biến trên thế giới. Cụm từ đó không đơn giản chỉ là một thời kỳ của lịch sử Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo-mà theo ý nghĩa sâu sắc hơn là: tất cả những thành tựu to lớn nhất, những giá trị văn hóa cao đẹp nhất mà nhân dân VN đã đạt được trong thời kỳ đấu tranh cách mạng ấy đều có dấu ấn đậm nét của HCM-như một yếu tố quyết định mọi thắng lợi.

Từ cách đặt vấn đề ấy, bài viết sẽ trình bày những di sản vô giá mà thời đại HCM đã để lại cho các thế hệ sau.

*

*        *

Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng - vì nếu không có sự tham gia đông đảo của nhân dân thì không có cách mạng. Nhưng phải có người lãnh đạo hội đủ cả tài năng và đức độ thì cách mạng mới thành công. Hồ Chí Minh là một lãnh tụ như thế- Người đã cống hiến rất lớn cho sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước - vì những cống hiến ấy mà nhân dân Việt Nam gọi là “Thời đại Hồ Chí Minh”.

Hồ Chí Minh-Người tổ chức, lãnh đạo thành công cuộc cách mạng giành độc lập dân tộc-khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Giữa thế kỷ XIX, Việt Nam chưa ra khỏi chế độ phong kiến đã bị thực dân phương Tây xâm lược. Đến đầu thế kỷ XX, xu hướng dân chủ tư sản mới ảnh hưởng vào VN qua con đường Trung Quốc và Nhật Bản. Những cuộc vận động cách mạng như Đông du, Đông kinh nghĩa thục…do các sĩ phu và nhân sĩ yêu nước phát động mới chỉ dừng lại ở mức đánh thức tinh thần dân tộc trong một bộ phận nhân dân và giới trí thức, chưa tập hợp được lực lượng đủ mạnh và rộng rãi, mặt khác, tình thế và điều kiện thế giới, trong nước chưa cho phép tiến hành một cuộc đấu tranh cách mạng.

Lúc đó Nguyễn Tất Thành còn là một thanh niên nhưng đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của những phong trào vận động cách mạng và cũng đã kế thừa được những kinh nghiệm của các bậc tiền bối. Có lẽ người thanh niên ấy đã hiểu rằng không thể dựa vào hệ tư tưởng còn nặng phong kiến của Á đông để xóa bỏ sự cai trị của thực dân phương tây nên đã quyết định đi tìm hiểu tình hình ở chính các nơi sinh ra chủ nghĩa thực dân.

Sau này sử sách Việt Nam đặt tên cho sự kiện đó là “Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước” và trình bày các sự kiện lịch sử như là Bác Hồ đã tìm thấy con đường cách mạng Việt Nam ở luận cương về dân tộc và thuộc địa của Lenin và ở các cuộc cách mạng tư sản cùng với phong trào công nhân ở châu Âu. Điều đó không sai nhưng chưa phản ánh khách quan vai trò cá nhân của HCM trong việc sáng tạo con đường cách mạng giành độc lập dân tộc của Việt Nam. Thực ra, khi quyết định ra đi tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đã xác định rõ mục tiêu:.. Tôi đi xem người ta làm thế nào để về giúp dân ta… - tức là để đi quan sát, tìm hiểu, học tập, lựa chọn, để “biết người biết ta”chứ không phải để “sao chép” các tư tưởng, các mô hình cách mạng ở nước ngoài. Điều đó được chứng minh bằng những quan điểm cơ bản của HCM trong quá trình hình thành đường lối và chỉ đạo cách mạng giành độc lập dân tộc của Việt Nam:

Thời kỳ đó, quan điểm của quốc tế cộng sản gần như nghiêng hẳn về đấu tranh giai cấp nên đưa ra nhận định: cách mạng vô sản ở chính quốc sẽ giành thắng lợi trước để giúp cho vô sản ở thuộc địa giành độc lập dân tộc. Nhưng HCM đã căn cứ vào thực tế ở phương đông và Việt Nam để đưa ra nhận định:  cách mạng giải phóng dân tộc ở thuộc địa có thể giành thắng lợi trước và hỗ trợ cho cách mạng vô sản ở chính quốc. Do đó, từ chính cương tóm tắt năm 1929, HCM đã xác định sẽ tiến hành “cách mạng tư sản dân quyền” kiểu mới do giai cấp vô sản lãnh đạo, dựa trên khối đại đoàn kết toàn dân, không phân biệt dân tộc, giai cấp, tôn giáo tín ngưỡng. Đến hội nghị TW 6-(tháng 11-1939) xác định nhiệm vụ cụ thể, trước mắt là chống phát xít. Đến hội nghị TW 7 (11-1940), vẫn khẳng định tính chất cách mạng tư sản dân quyền. Nhưng đến hội nghị TW 8 (5-1941) đã xác định chỉ tập trung vào một mục tiêu cấp bách là “dân tộc giải phóng”, đồng thời thành lập “Mặt trận Việt Minh” nhằm xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân. Hội nghị TW 8 được đánh giá là sự hoàn chỉnh đường lối cách mạng giải phóng dân tộc. Về phương pháp cách mạng sẽ đi từ “khởi nghĩa từng phần tiến đến tổng khởi nghĩa”. Đó là sự sáng tạo và phát triển lý luận của Lenin về “Tổng khởi nghĩa” giành chính quyền đi từ  “tổng bãi công chính trị” và từ khởi nghĩa vũ trang lên chiến tranh cách mạng.

Nhìn lại cả quá trình từ chính cương tóm tắt năm 1929, trải qua các nghị quyết 6,7,8- đến thắng lợi của cách mạng tháng 8-1945-HCM luôn đứng ở vị trí của “Thuyền trưởng”-người đưa ra những đường lối chiến lược, người tổ chức lực lượng và trực tiếp lãnh đạo cuộc khởi nghĩa giành chính quyền. Với vai trò đó, HCM là người xứng đáng nhất được lịch sử và nhân dân lựa chọn để trao cho trách nhiệm và vinh dự đọc bản Tuyên ngôn độc lập- khai sinh “ Nước Việt Nam Dân chủ Công hòa”. Đó là sự xác nhận công bằng của lịch sử.   

Hồ Chí Minh-Người lãnh đạo hai cuộc kháng chiến đánh bại chủ nghĩa thực dân cũ và mới-thống nhất đất nước.

Việt Nam tuyên bố độc lập trong hoàn cảnh cạn kiệt ngân sách và chưa đầy một tháng sau quân Pháp đã quay lại đánh chiếm Sài Gòn, quân Tưởng Giới Thạch cướp phá ở miền Bắc…

Tình thế ấy được gọi là “ngàn cân treo sợi tóc” đòi hỏi HCM phải có sách lược khôn khéo. Để loại bỏ bớt kẻ thù, chính phủ VN đã thỏa thuận cho phép quân Pháp thay thế quân Tưởng ở miền Bắc. Để có tài chính cho hoạt động của chính phủ, HCM đã tổ chức “tuần lễ vàng” kêu gọi sự đóng góp vật chất của tất cả các tầng lớp nhân dân. Để kéo dài thời gian hòa hoãn và tránh một cuộc chiến tranh, HCM đã di sang Pháp để hội đàm và Người đã nhượng bộ đến mức chấp nhận Việt Nam là nước tự do trong khối liên hiệp Pháp-nhưng thực dân Pháp đã từ chối thiện ý đó nên bắt buộc nhân dân Việt Nam phải đứng lên kháng chiến, quyết không chịu làm nô lệ một lần nữa.

Đường lối chỉ đạo xuyên suốt hai cuộc kháng chiến do HCM và Đảng CSVN vạch ra có nội dung cơ bản là: xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tiến hành chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cách sinh, tranh thủ sức mạnh thời đại. Về quân sự, lấy nhỏ đánh lớn, lấy mưu trí, dũng cảm đánh vũ khí hiện đại, tổ chức lực lượng vũ trang nhân dân ba thứ quân làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc…đứng vững ở nông thôn, tấn công địch trên cả ba vùng chiến lược…đẩy lui địch từng bước, giành thắng lợi từng phần tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn... Hầu như tất cả những nội dung ấy không phải từ phương tây mà hoàn toàn từ kinh nghiệm trong lịch sử chống ngoại xâm hàng ngàn năm của dân tộc VN. Đó là tinh thần chủ động tiến công từ thời Lý Thường Kiệt, là tổ chức ba thứ quân, trăm họ đánh giặc, khoan sức dân, hội nghị Diên Hồng thời nhà Trần, là kháng chiến trường kỳ, lấy nhân nghĩa thắng hung tàn của thời Lê Lợi-Nguyễn Trãi, là tiến công thần tốc bất ngờ của thời Quang Trung…những kinh nghiệm lịch sử ấy đã kết tinh trong tư tưởng cách mạng và trong chỉ đạo chiến lược của HCM.

Chủ nghĩa thực dân kiểu cũ của Pháp đã cai trị VN gần 80 năm nhưng chỉ sau 9 năm đối phó với chiến tranh nhân dân do HCM lãnh đạo chúng phải chịu thất bại và rút khỏi toàn cõi Đông Dương. Chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ giàu mạnh và thâm độc gấp bội so với Pháp nhưng cũng chỉ chiếm đóng được 21 năm với sự thất bại liên tiến của 4 đời tổng thống, 4 chiến lược quân sự và nửa triệu quân viễn chinh…để rồi buộc phải  “tháo chạy tán loạn” vào ngày 30-4-1975.

Hồ Chí Minh từ trần trước khi giải phóng miền Nam, nhưng Người đã khẵng định đường lối, đã xác định chiến lược chiến tranh nhân dân, đã chỉ rõ phương pháp đi đến thắng lợi: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, Người còn để lại bản di chúc-trong đó khẳng định cuộc kháng chiến chống Mỹ nhất định đi đến thắng lợi hoàn toàn và chỉ ra những việc cần phải làm ngay khi chiến tranh kết thúc, thống nhất đất nước. 

Hồ Chí Minh-Người chỉ đạo xây dựng lực lượng vũ trang kiểu mới

Theo chỉ thị của HCM, ngay 22-12-1944 đội “Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân” được thành lập trên núi rừng Việt bắc với nhiệm vụ trước mắt là “chính trị trọng hơn quân sự”. Đội quân 34 chiến sỹ ấy là tiền thân của “quân đội nhân dân Việt Nam” sau này. Những tên gọi do Bác Hồ đặt cho quân đội nhằm khẳng định bản chất “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu”- khác hẳn với các đội quân nhà nghề của thực dân, đế quốc-sinh ra để đi xâm lược và đàn áp nhưng cuộc đấu tranh của những người bị bóc lột.

 Quân đội do HCM sáng lập và chỉ đạo đã được giao cho một vị tướng tài ba là Võ Nguyên Giáp trực tiếp xây dựng và chỉ huy. Đó là “đội quân công tác và đội quân chiến đấu”. Đội quân ấy đã đánh thắng ngay từ trận đầu ra quân (trận Phai Khắt-Nà Ngần) và càng đánh càng mạnh: sau 9 năm kháng chiến đã làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “trấn động địa cầu” và sau 30 năm đã làm nên chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng hoàn toàn miền Nam, đồng thời đánh bại hoàn toàn mô hình chủ nghĩa thực dân kiểu mới của Mỹ.

Đúng như tên gọi do Bác Hồ đặt cho, quân đội nhân dân Việt Nam không chỉ chiến đấu giỏi mà còn gắn bó mật thiết với nhân dân- như lời bài hát “…đoàn vệ quốc chúng ta, ở nhân dân mà ra, được dân mến, được dân tin muôn phần… vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh…”, chính vì thế mà “các anh đi ngày ấy đã lâu rồi…xóm làng tôi còn nhớ mãi…”. Những người lính được nhân dân hết lòng tin yêu vì họ luôn làm theo lời Bác Hồ đã dạy, luôn biết kính già, yêu trẻ và tận tình giúp đỡ nhân dân-nên cũng chính vì thế mà nhân dân gọi các anh bằng cái tên yêu mến là “Bộ đội Cụ Hồ”.

Ngày nay, quân đội nhân dân Việt Nam đang trên con đường tiến lên chính quy hiện đại, đã có các quân binh chủng và vũ khí tối tân-nhưng quan trọng hơn là phải giữ được bản chất “Bộ đội Cụ Hồ” mới có thể phát huy được truyền thống “khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
  

Hồ Chí Minh-Người nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế

Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam từ giữa thế kỷ XIX, từ đó cái tên Việt Nam bị phai mờ dần, chỉ còn lại như một địa danh thuộc vùng viễn đông của nước Pháp. Tình trạng ấy kéo dài gần 80 năm, cho đến ngày 2-9-1945, tại quảng trường Ba Đình, lần đầu tiên thế giới nghe được tiếng nói của một người Việt Nam đọc tên đất nước mình “Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” và khẳng định đã thực sự là một nước tự do, độc lập. Ngay sau đó, chính phủ Pháp phải mời vị chủ tịch đấu tiên của nước Việt Nam độc lập đến Paris để hội đàm và họ tưởng rằng HCM sẽ chấp nhận để Pháp tiếp tục cai trị Việt Nam - nhưng câu trả lời của HCM-đại diện cho ý chí của nhân dân Việt Nam là nhất tề đứng lên kháng chiến để bảo vệ nền độc lập.

Cuộc kháng chiến của nhân dân VN ngày càng thu được nhiều thắng lợi, đến khi quân Pháp rơi vào cái bẫy do chính họ tạo ra ở  Điện Biên Phủ thì Việt Nam trở thành tâm điểm chú ý của cả thế giới-tất cả các nước lớn(Mỹ, Anh, Pháp, Trung quốc và Liên Xô) đã tham dự hội đàm ở Geneva để có một bản hiệp định hòa bình-mà theo đó thực dân Pháp phải rút khỏi Việt Nam và Đông Dương.

Sau Điện Biên Phủ, tất cả các nước đang đấu tranh đòi độc lập thường nhắc đến những cái tên: Việt Nam, Hồ Chí Minh-Võ Nguyên Giáp như khẩu hiệu cổ vũ tinh thần đấu tranh và niềm tin vào thắng lợi, còn các nước thực dân đế quốc thì coi đó như một lời cảnh báo về sự thất bại tất yếu của họ. Khi Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cả thế giới tiến bộ đã lên tiếng ủng hộ và coi đó là cuộc đấu tranh vì “Lương tri của thời đại”- Việt Nam đã trở thành lá cờ đầu trong phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới.

Trong thế kỷ XX, HCM đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc cách mạng tháng 8-1945-giành lại độc lập, sau đó lãnh đạo tiến hành hai cuộc kháng chiến đánh bại cả chủ nghĩa thực dân cũ và thực dân mới, thống nhất đất nước. Những thắng lợi đó đã đưa Việt Nam từ một thuộc địa lên vị thế của một quốc gia độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, được thế tôn trọng và vinh danh là biểu tượng của tinh thần đấu tranh bất khuất và Việt Nam còn có anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới là HCM và danh tướng thế giới là Võ Nguyên Giáp.

Ngày nay, vị thế của Việt Nam trên thế giới ngày càng nâng cao vì nó bắt  nguồn từ tư tưởng và ý chí “không gì quý hơn độc lập tự do” của HCM.      

Hồ Chí Minh-Người chỉ đạo xây dựng nền văn hóa mới

Thực dân Pháp đô hộ Việt Nam gần 80 năm nhưng họ không mang đến cho đất nước này những giá trị của nền văn minh-mà ngược lại, họ duy trì một chế độ “thực dân nửa phong kiến”-trong đó hơn 90% dân số mù chữ và họ truyền bá một lối sống trộn lẫn những hủ tục của phong kiến với những tệ nạn xã hội của phương tây. Vì thế, ngay sau khi tuyên bố độc lập, HCM đã xác định các loại “giặc” phải bị tiêu diệt là: giặc đói,  giặc dốt, và giặc ngoại xâm.

Trên mặt trận diệt giặc dốt, HCM đã phát động phong trào “Bình dân học vụ”-thu hút hầu như tất cả những người chưa biết chữ đều muốn được học và tất cả những người đã biết chữ đều tham gia phong trào xóa nạn mù chữ…Một nền giáo dục mới đã hình thành và phát triển trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn của cuộc kháng chiến nhưng ánh sáng của tri thức đã xua dần đi những tăm tối của đêm dài nô lệ-một nền văn hóa mới, lối sống mới đã hình thành và phát triển ở những vùng nông thôn giải phóng. Những người nông dân bao đời chỉ biết cúi mặt xuống luống cày để có đủ thóc nộp tô cho địa chủ, chỉ một thời gian không lâu đã biết đọc, biết viết và được sinh hoạt trong những đoàn thể cách mạng như hội nông dân cứu quốc, hội Phụ Nữ, đoàn thanh niên, được nghe những diều tốt đẹp về quyền bình đẳng, tự do, bác ái, về một xã hội không có bóc lột…những chàng trai làng trở thành những chiến sỹ vệ quốc đoàn…dù chỉ có “nớp với dáo mang trên vai nhưng thân trai nào kém oai hùng…”. Đó là cuộc đổi đời vĩ đại của cả một dân tộc vừa bước ra từ đêm dài nô lệ để được sống, được hãnh diện, tự hào là  người dân của một nước độc lập.

Ngày nay, trong xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam đang đứng trước những thử thách rất lớn của sự du nhập văn hóa, lối sống từ bên ngoài. Trong bối cảnh đó, Việt Nam chủ trương xây dựng “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”. Tuy nhiên, quay về bản sắc văn hóa dân tộc không phải chỉ là khôi phục những lễ hội tín ngưỡng cổ xưa-mà quan trọng hơn là sự phát huy những giá trị tinh thần trong tư tưởng và lối sống của HCM. Đó là ý chí độc lập dân tộc, lối sống giản dị, tinh thần đoàn kết, đức tính hy sinh, hết lòng phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân… Do đó, phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức HCM là dành cho mọi người dân Việt Nam - nhưng trước hết là Cán bộ, Đảng viên có chức có quyền càng cao thì càng phải học tập nhiều hơn để xứng đáng là người “đầy tớ thật trung thành của nhân dân”- như lời Bác Hồ đã dạy.

***

Năm tháng sẽ qua đi, những giá trị vật chất sẽ thay đổi theo thời gian - sông có thể cạn, núi có thể mòn…nhưng tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh có giá trị vĩnh hằng đối với đất nước và con người Việt Nam

TP HCM ngày 10-4-2014

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.