Đô thị hóa ở Bình Dương lợi thế "xuất phát sau" và tham khảo những bài học từ TP. Hồ Chí Minh

Trung tâm CSS xin trân trọng giới thiệu bài viết về đô thị hóa ở Bình Dương của TS. Nguyễn Hữu Nguyên (Cộng tác viên Trung tâm). Bài viết được đăng trong kỷ yếu hội thảo khoa học "20 năm đô thị hóa Bình Dương - Những vấn đề thực tiễn"

 Đô thị hóa ở Bình Dương lợi thế "xuất phát sau" và tham khảo những bài học từ TP. Hồ Chí Minh

“Xuất phát sau” không đồng nghĩa với “đi sau”- vì tốc độ chậm- mà hàm nghĩa là có thể tận dụng được những kinh nghiệm của người xuất phát trước.

 

           Bình Dương (BD) thực sự bước vào quá trình đô thị hóa cách đây 20 năm-nếu so với Hà Nội ngàn năm tuổi, TP HCM hơn 300 năm-thì đô thị BD xuất phát sau hơn rất nhiều. BD đã tổng kết quá trình 20 năm đô thị hóa với đầy đủ số liệu thống kê kết quả của các mặt và rút ra 4 bài học kinh nghiệm cụ thể. Bình Dương cũng đã được phê duyệt quy hoạch tổng thể, chi tiết và lộ trình đô thị hóa đến 2020-tầm nhìn 2030 -với những mục tiêu cơ bản là: đến 2020 tỷ lệ đô thị hóa đạt 85% và trở thành đô thị loại I-trực thuộc Trung Ương. Thành phố Bình Dương sẽ gồm 6 quận, 4 huyện, 60 phường, 13 thị trấn và 40 xã-dân số khoảng từ 2,5 đến 3 triệu người-cùng với hệ thống các chỉ số về đời sống vật chất, tinh thần của cư dân và cơ sở hạ tầng kỹ thuật của đô thị.

 

Như vậy vấn đề tổng kết kinh nghiệm và quy hoạch đến 2020 đã được định hình và mang tính pháp lý nên không đòi hỏi phải bổ xung, điều chỉnh. Do đó vấn đề cần nghiên cứu hơn là xác định những điều kiện, giải pháp cụ thể và khả năng thực hiện quy hoạch của Bình Dương. Tuy nhiên, bài viết này không nêu toàn bộ những kinh nghiệm đô thị hóa của TP HCM- mà chỉ nêu một số bài học không thành công và đã để lại những hệ quả lâu dài cho phát triển đô thị- để BD có thể tham khảo nhằm tránh những sai lầm tương tự.

 

1-Bài học về “quy hoạch ngược” với nhiều hệ lụy

 

Công tác quy hoạch nói chung có nguyên tắc đơn giản là: quy hoạch tổng thể phải đi trước quy hoạch chi tiết. Thế nhưng, ở nước ta tình trạng quy hoạch theo quy trình ngược là khá phổ biến. Cụ thể là: cấp huyện làm quy hoạch trước, cấp tỉnh làm sau rồi mới đến cấp vùng và toàn quốc làm sau cùng.

 

Về quy hoạch phát triển đô thị cũng như thế-đáng lẽ phải thao quy trình gồm các khâu: trước hết cần xác định triết lý phát triển, xác định chiến lược phát triển, xây dựng quy hoạch tổng thể, lập quy hoạch chi tiết và sau cùng là thiết kế và xây dựng đô thị. Thế nhưng bài học của TP HCM là đã “đốt cháy giai đoạn”-bỏ qua triết lý, chiến lược, quy hoạch tổng để tiến hành quy hoạch chi tiết-cụ thể là các quận, huyện tự làm quy hoạch- sau khi thành phố phê duyệt xong quy hoạch các quận, huyện mới lập quy hoạch chung của TP-thực chất đó chỉ là sự ghép nối các bản quy hoạch chi tiết chứ không phải là quy hoạch tổng thể của thành phố

 Hệ quả tiêu cực của tình trạng này là tạo ra bản quy hoạch không cân đối-có những công trình thừa ở khu vực này nhưng lại thiếu ở khu vực khác(như chợ, nhà văn hóa…). Tình trạng này giống như may một cái áo mà mỗi bộ phận được cắt theo số đo của mỗi người khác nhau-do đó không hình thành được các phân khu chức năng một cách rõ ràng nên không thiết kế được mạng giao thông công cộng hợp lý và hiệu quả.

 

BD xuất phát sau, có lẽ đã nhận ra điều này nên trong quy hoạch phát triển đến 2020 và tầm nhìn 2030 đã thể hiện sự định hướng có tính tổng thể là: Phát triển chùm đô thị tập trung ở phía nam và các đô thị vệ tinh ở hướng bắc, TX TDM là đô thị trung tâm, các đô thị mới gắn với khu công nghiệp và dựa vào 2 trục giao thông lớn chạy hướng đông-tây và bắc- nam (đại lộ Bình Dương, đường ĐT 747 và đường vành đai 4). Phát triển đô thị sinh thái, du lịch, nghỉ dưỡng cặp theo các con sông Sài Gòn, Thị Tính, Đồng Nai… Như vậy đã quy hoạch từng vùng cho từng loại đô thị làm cơ sở cho quy hoạch chi tiết từng đô thị phù hợp với tính chất và chức năng khác nhau. Đó cũng là cơ sở để thiết kế mạng giao thông công cộng nối các tiểu vùng-có thể hợp lý và hiệu quả hơn.

 

 Về triết lý phát triển, đáng lẽ TP HCM phải xác định ngay từ khi thực hiện đổi mới, nhưng 30 năm sau-đến nhiệm kỳ 2016-2020-mới nêu “Triết lý phát triển” là: xây dựng TP có chất lượng sống tốt, văn minh, nghĩa tình…Nhưng đó là những mục tiêu chung mà bất cứ đô thị nào trên thế giới cũng hướng tới-không phải là “triết lý”-vì chưa phản ánh sắc thái riêng của SG-TP HCM-Do vậy TP HCM nên chọn triết lý phát triển là: “Tiên phong và khai phá” vì hai đặc điểm này vừa là truyền thống vừa là năng lực của TP. Đối với BD, tuy chưa nêu rõ triết lý phát triển nhưng trong quy hoạch đến 2020-2030 đã đề cập vấn đề xây dựng “sắc thái riêng” -nếu xác định đúng sắc thái thì đó có thể coi là “triết lý phát triển”. Cho dù sau 20 năm mới đề cập “sắc thái” nhưng so với SG-TP HCM cũng là sớm hơn rất nhiề

 

Tóm lại, từ bài học của TP HCM về về quy hoạch ngược, Bình Dương đã xây dựng quy hoạch phát triển đến 2020-2030 đi từ sắc thái đến quy hoạch tổng  thể các phân khu chức năng, làm cơ sở cho cho quy hoạch chi tiết phù hợp với tính chất và chức năng của các loại đô thị

2-Bài học về quá tải dân số và mật độ

 

TP HCM có diện tích 2.093,7 km2, dân số hiện nay đã gần 10 triệu người (kể cả vãng lai) và đã trở thành “siêu đô thị” về dân số mà hệ quả là đã rơi vào tình trạng “quá tải toàn diện”. Nguyên nhân của tình trạng này bắt nguồn từ công tác quy hoạch đơn thuần về kiến trúc mà thiếu các yếu tố kỹ thuật và khoa học xã hội nên đã không giới hạn không gian tối đa và dân số tối đa mà gần như rơi vào tình trạng “đô thị hóa tự phát”-kéo theo tình trạng tăng dân số cơ học quá nhanh so với tốc độ xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị và nhà ở. Không những thế mà còn có thể do quan niệm của TP HCM về đô thị hiện đại là phải có quy mô lớn về dân số nên trong quy hoạch đến 2020 hướng đến dân số 12 triệu người.

 

Nếu Bình Dương tham khảo bài học này thì hoàn toàn có thể tránh được tình trạng quá tải dân số mà TP HCM đã mắc phải vì BD có diện tích tự nhiên 2.695 km2 (gấp 1,3 lần TP HCM) nhưng dân số mới có 1,7 triệu (chưa bằng 1/5 của TP HCM)- và dự kiến đến 2020 là khoảng 2,5 đến 3 triệu-cũng mới bằng 1/3 dân số TP HCM hiện nay. Nếu BD thực hiện đúng quy hoạch thì sẽ không rơi vào tình trạng quá tải dân số và mật độ

 

Như vậy BD nên nghiên cứu kỹ bài học quá tải dân số của TP HCM- trong khi đang có tỷ lệ diện tích và dân số còn nằm trong khả năng kiểm soát và điều chỉnh. Về vấn đề này nên tham khảo trường hợp Singapore- dân số chỉ bằng ½ TP HCM (khoảng 5 triệu)-nhưng vẫn trở thành đô thị hiện đại, đô thị thông minh và thân thiện với môi trường bậc nhất thế giới. Điều đó chứng tỏ thành phố hiện đại không tùy thuộc vào dân số đông mà tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế xã hội và khoa học, công nghệ-ngược lại dân số và mật độ cao đang là trở lực của phát triển đô thị bền vững mà xu hướng thế giới đang từ bỏ

 

Từ bài học của TP HCM và những siêu đô thị khác trên thế giới có thể rút ra nhận xét: “Dân số và mật độ là mẫu số chung của tất cả các vấn đề phát triển đô thị”- nói cách khác bất cứ vấn đề gì của đô thị đều có mối quan hệ trực tiếp với dân số và mật độ

3-Bài học về vấn nạn ùn tắc giao thông ở TP HCM

 

Vấn nạn ùn tắc giao thông ở TP HCM do nhiều yếu tố nhưng nguyên nhân căn bản và bao trùm là diện tích dành cho giao thông còn quá thấp so với yêu cầu (mới đạt khoảng 7% so với yêu cầu 20-đến 30% diện tích tự nhiên)-không những thế mà đường hẹp và đường hẻm chiếm 2/3 tổng chiều dài. Nguyên nhân quan trọng thứ hai là dân số quá đông kéo theo số lượng phương tiện giao thông quá nhiều(khoảng 7 tiệu phương tiện các loại) nên hệ thống đường không đủ sức chứa. Nguyên nhân thứ ba là tổ chức giao thông chưa hợp lý: đường ít và hẹp nhưng lại phát triển xe Bus cỡ lớn nên không thu hút được nhu cầu đi lại của cư dân buôn bán nhỏ và đặc điểm hoạt động “kinh tế mặt tiền”. Ngoài ra còn nguyên nhân từ sự hạn chế về ý thức của người tham gia giao thông - nhưng đó không phải là yếu tố căn bản mà là hệ quả của các nguyên nhân khác. TP HCM hiện không thể tăng tỷ lệ diện tích đường giao thông trong vùng lõi vì không còn quỹ đất, cũng không thể cấm hoặc hạn chế phương tiện giao thông các nhân-chủ yếu là xe máy(đã gần 6 triệu xe)-vì nó là phương tiện mưu sinh của người dân và nó tiết kiệm hơn cả về thời gia và tiền bạc so với sử dụng xe bus. Thế nhưng trong nhiệm kỳ 2016-2020, TP HCM  vẫn chủ trương “tăng cường phương tiện giao thông có sức chở lớn”- sẽ là chủ trương không khả thi vì chương trình xe Bus vẫn đang lãng phí hàng trăm tỷ đồng mỗi năm nhưng chỉ đáp ứng được khoảng 6 đến 7% nhu cầu đi lại của người dân thành phố

 

Bình Dương hiện nay vẫn còn là nơi “đất rộng-người thưa” so với Sài Gòn và có bài học rất cụ thể từ TP HCM nên hoàn toàn có thể tránh được vấn nạn ùn tắc giao thông trong đô thị-cụ thể là đường giao thông đô thị đã đạt 17,4%  từ năm 2006 và đến 2015 đã đạt 22%(tiêu chí đô thị loại II). Tuy nhiên, BD vẫn cần tham khảo bài học về tổ chức giao thông và định hướng phát triển phương tiện giao thông. Có lẽ không thể cấm hoàn toàn xe máy vì nó vẫn là phương tiện phù hợp với nhu cầu đi lại của những người thu nhập trung bình trở xuống. Tuy nhiên nếu tổ chức giao thông công cộng hiệu quả và đa dạng kích cỡ của phương tiện giao thông công cộng để đáp ứng nhu cầu đi lại của các tầng lớp cư dân đô thị thì tự nhiên số người sử dụng phương tiện cá nhân sẽ giảm

 

4-Bài học về nạn ngập úng ở TP HCM

 

Nạn ngập úng ở TP HCM có một phần do biến đổi khí hậu toàn cầu, nước biểu dâng và mưa nhiều hơn nhưng nguyên nhân chính là do quy hoạch phát triển đô thị đã tạo ra những hệ quả khó tránh

 

Thế đất ở miền đông Nam bộ và TP HCM thấp dần về hướng đông –nam và ở phía nam TP có rất nhiều kênh rạch lớn nhỏ là hệ thống thoát nước tự nhiên ra sông Nhà Bè và Xoài Rạp. Nhưng quá trình đô thị hóa đã bồi đắp hàng ngàn ha vùng thấp và san lấp mấy chục con rạch (đường Nguyễn Văn Linh như một con đê ngăn nước mưa chảy về hướng nam, khu Phú Mỹ Hưng san lấp hơn 1 ngàn ha cùng nhiều kênh rạch) nên đã hạn chế rất nhiều khả năng thoát nước tự nhiên. Các vùng đất trống ở TP  trước đây có khả năng tự thấm từ  30 đến 40% lượng nước mưa nhưng do phần lớn diện tích đã xây cất nên tỷ lệ tự thấm chỉ còn khoảng 10% do đó khi mưa lớn là nhiều điểm bị ngập

 

Lượng nước thải công nghiệp và nước thải sinh hoạt của 10 triệu dân là rất lớn nhưng hệ thống thoát nước đã cũ, không đồng bộ nên khi mưa lớn cùng lúc với thời điểm triều cường là ngập úng ngay cả ở những nơi có độ cao 2m so với mặt biển

 

Mặc dù tình trạng ngập úng ở BD chưa nặng nề như TP HCM nhưng bài học này chắc hẳn cũng rất cần tham khỏa-nhất là đối với việc lập quy hoạch cho các đô thị ven các con sông lớn

 

5-Bài học về xây dựng đời sống văn hóa và chống tệ nạn xã hội

 

Tp HCM đã duy trì liên tục rất nhiều chương trình, và các cuộc vận động xây dựng đời sống văn hóa vật chất và tinh thần-cụ thể như: cuộc vận động “thi đua xây dựng TP xanh, sạch, đẹp”,  thực hiện “năm văn hóa, văn minh đô thị”, cuộc vận động “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”, xây dựng “khu phố văn hóa”, “gia đình văn hóa” “cơ quan văn hóa, đơn vị văn hóa”, thực hiện “chương trình ba giảm”, “năm an toàn giao thông”, xây dựng “văn hóa giao thông”, hàng năm còn triển khai cho học sinh sinh viên thực hiện  chương trình “mùa hè xanh”, phong trào tình nguyện hỗ trợ mùa thi, chương trình “nhà tình thương, nhà tình nghĩa”, ngôi nhà mơ ước, vượt lên chính mình, chăm sóc các mẹ VN Anh hùng, các chương trình “mái ấm tình thương” cho trẻ em cơ nhỡ…  Các chương trình và cuộc vận động nhiều đến mức người dân TP và ngay cả cán bộ cũng không thể nhớ hết

 

Thế nhưng kết quả lại rất hạn chế-cụ thể như chương trình xây dựng  “khu phố văn hóa” đã được báo chí phản ánh bằng những bài báo như : “Khu phố văn hóa nhưng không…văn hóa”, “Nhếch nhác bảng khu phố văn hóa”       (báo Người lao động),“Nhiều khu phố văn hóa còn nhếch nhác”(báo CA TP HCM) và nhiều tờ báo khác cũng có những bài tương tự. Có người dân nói về khu phố văn hóa của họ như sau: “chính quyền vận động thực hiện lối sống văn hóa, văn minh ở khu dân cư nhưng có mấy ai chấp hành ?cũng không thấy ai chế tài gì đối với người vi phạm…”(báo Người lao động). Có những khu phố, chỉ cách tấm bảng khoảng 20m là hàng loạt quán nhậu lấn chiếm vỉa hè và xả rác thải bừa bãi. Tình trạng các quán nhậu này đã tồn tại đến nay hơn 20 năm mà chính quyền địa phương chưa thể giải quyết triệt để.

 

Nguyên nhân của tình trạng ấy đến từ cách tổ chức thực hiện-cụ thể là: các chương trình và cuộc vận động đều được UBND và HĐND Thành phố trực tiếp chỉ đạo và triển khai rất “bài bản”, triển khai giao nhiệm vụ cho các quận, huyện, các ban ngành, đoàn thể đến tổ chức sơ kết, tổng kết, khen thưởng, nhân điển hình...Nhưng khi xuống đến dân thì hầu như  “khoán trắng” cho tổ trưởng dân phố-đó là một chức danh không phải là công chức, không phải chịu trách nhiệm trực tiếp với chính quyền.. Mặt khác, tổ dân phố 3 tháng mới họp một lần, chỉ đủ thời gian giải quyết việc nội bộ khu phố và thu các loại tiền đóng góp, không có thời gian phổ biến và vận động thực hiện các chương trình nên thực chất không tạo ra được các “phong trào” như báo cáo của các địa phương. Chính vì thế mà trong hội nghị tổng kết về xây dựng văn minh đô thị- có 250 bằng khen, giấy khen nhưng chỉ có 10 tổ trưởng dân phố và 3 người dân được khen-còn 237 dành cho cán bộ từ cấp phường trở lên-ngay cả trí thức cũng  có đến 2/3 không chú ý đến các cuộc vận động. Thực tế đó cho thấy các chương trình mang nặng tính hình thức nên hiệu quả rất hạn chế và lãng phí.

 

 Bệnh thành tích cũng là một nguyên nhân quan trọng làm cho nhiều khu phố chỉ có cái vỏ là tấm biển “khu phố văn hóa” nhưng bên trong thì ngược lại vì quận huyện nào cũng muốn có thành tích cao về xây dựng được nhiều khu phố văn hóa nên coi nhẹ chất lượng

 

Bài học này cũng liên quan đến dân số và mật độ vì mỗi phường ở TP HCM có rất nhiều tổ dân phố nên bộ máy quản lý cấp phường không thể bao quát hết-cùng với sự hạn chế về trình độ quản lý xã hội, bệnh quan liêu và bệnh thành tích còn quá nặng làm cho vấn đề xây dựng đời sống văn hóa đô thị không đạt được hiệu quả cao

 

BD có thể thành công hơn TP HCM về xây dựng đời sống văn hóa đô thị nếu không trở thành “siêu đô thị” về dân số và tham khảo kỹ bài học về quản lý xã hội đô thị của TP HCM

 

Về chống tệ nạn xã hội: có thể nói TP HCM là trung tâm tệ nạn xã hội lớn nhất ở phía nam đất nước. Điều đó dễ hiểu vì nó là hệ quả không tránh khỏi của tình trạng siêu đô thị về dân số mà tất cả các thành phố lớn trên thế giới đều mắc phải

 

Tp HCM đã thực hiện nhiều chương trình chống tệ nạn xã hội-như thực hiện “ba giảm”-nhằm vào ba đối tượng chính là mại dâm, ma túy và cướp dật nhưng chỉ có thể kiềm chế một phần -thậm chí có mặt còn phát triển phức tạp hơn. Cụ thể là: trong hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Pháp lệnh Phòng, chống mại dâm UBND TP cho biết: đã tiến hành kiểm tra gần 30.000 cơ sở kinh doanh dịch vụ, lưu trú, massage, cà phê,... phát hiện trên 64.000 lượt vi phạm. Riêng các hoạt động mại dâm nơi công cộng đã bắt gần 4.500 đối tượng liên quan.  TP.HCM hiện có hơn 29.000 cơ sở kinh doanh dịch vụ, phát hiện hơn 53% có mại dâm trá hình. Dù hàng nghìn cơ sở đã bị xử lý, đình chỉ nhưng hoạt động mại dâm vẫn ngày càng mở rộng

 

Như trên đã trình bày, tất cả các vấn đề đô thị đều có liên quan trực tiếp đến dân số và mật độ. Riêng vấn đề tệ nạn xã hội thì dân số đông và mật đô cao là môi trường tốt nhất để các loại tội phạm hoạt động vì lực lượng an ninh không đủ để kiểm soát hành vi của từng người

 

Bài học này giúp BD tính toán dân số và mật độ cho từng đô thị cụ thể. Nếu đến 2020, tỷ lệ đô thị hóa đạt hơn 85% và dân số tối đa là 3 triệu người thì  chưa quá tải dân số và có thể kiểm soát, hạn chế được tốt hơn sự phát triển của tệ nạn xã hội. Tuy nhiên BD vẫn cần kinh nhiệm về phân bố dân cư và kiểm soát mật độ, tránh tình trạng “nén” mật độ dân số quá cao vào “vùng lõi” như TP HCM

 

6-Bài học về xây dựng chính quyền đô thị.

 

Không chỉ TP HCM mà tất cả đô thị của VN hiện nay đều có tổ chức bộ máy chính quyền giống như ở nông thôn. Khi quy mô đô thị còn nhỏ cả về không gian và dân số thì bộ máy chính quyền ấy chưa bộc lộ nhược điểm nhưng đô thị  phát triển như TP HCM hiện nay thì mô hình quản lý theo lãnh thổ bộc lộ nhiều nhiều bất cập:

 

Một là: quản lý theo lãnh thổ không đáp ứng được yêu cầu xử lý các tình huống đô thị thường xảy ra rất đột ngột-như gẫy cột địên, đổ cây, xập cầu…-nếu không xử lý kịp thời và nhanh chóng sẽ gây thiệt hại lớn về giao thông, môi trường và tính mạng người dân (như trường hợp một cây cột điện ở Quận 4 bị gẫy đổ, có nhiều cơ quan chức năng đến “khảo sát” nhưng hơn một tuần lễ vẫn không ai sửa chữa cây cột điện.)

 

Quản lý theo lãnh thổ sẽ rất khó kiểm soát và khống chế tệ nạn xã hội vì khi địa phương này mở đợt “truy quét” thì tệ nam dạt sang nơi khác, hết đợt truy quét lại trở về. Các khu vực giáp ranh thường xảy ra tình trạng đùn đẩy trách nhiệm.

 

Quản lý giao thông theo lãnh thổ cũng không kịp thời vì khi gặp tình huống giao thông hay môi trường có thể không cần giải quyết ngay vì nằm ở địa bàn giáp ranh về trách nhiệm(như trường hợp giải quyết ô nhiễm kênh Ba Bò-giáp ranh BD và TP HCM).

 

Quản lý theo lãnh thổ còn liên quan đến vấn đề đền bù giải tỏa do mỗi địa phương thực hiện khác nhau nên ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án phát triển đô thị (như trường hợp cầu Bình Triệu 2 đã làm xong nhưng chưa có đường dẫn do chưa đền bù giải tỏa xong ).

 

Từ sự bất cập về quản lý  xã hội của chính quyền đô thị như nêu trên, TP HCM đã xây dựng “đề án đổi mới mô hình chính quyền đô thị”-cụ thể là: có TP đặc biệt, có các quận nội thành, có 4 thành phố vành ngoài (đông, tây, nam, bắc) và có vùng nông thôn được quản lý bằng “bàn tay nối dài” của TP đặc biệt. Tuy nhiên đề án này chỉ mới chú ý đến phân bố lại địa bàn hành chính và đặt tên mới cho các khu vực, chưa có sự đổi mới về cơ cấu lãnh đạo và quản lý nên chưa chứng minh được khả năng nâng cao hiệu quả quản lý của mô hình mới-thậm chí còn thiếu trực tiếp hơn(bàn tay nối dài). Có lẽ vì thế mà Quốc hội chưa đồng ý cho thực hiện thí điểm.

 

Đây là bài học mà BD rất cần tham khảo để xây dựng bộ máy quản lý xã hội theo hướng nâng cao tính chủ động, linh hoạt cho chính quyền đô thị nhưng không mâu thuẫn với tính thống nhất của hệ thống chính trị. 

***

Bình Dương có điểm xuất phát sau về đô thị hóa so với TP HCM nên có được hai lợi thế chính: một là không có quá nhiều những di sản tiêu cực về quy hoạch và phát triển đô thị do lịch sử để lại như ở TP HCM(như quy hoạch không hợp lý, đô thị hóa tự phát, quá tải dân số dẫn đến quá tải toàn diện)…Hai là có những bài học về thành công và không thành công của quá trình đô thị hóa ở TP HCM-trong đó  những bài học không thành công có giá trị hết sức bổ ích và thiết thực để Bình Dương có thể tránh được những sai lầm khó chữa. Do đó Bình Dương “xuất phát sau” không có nghĩa là sẽ “đi sau” mà hoàn toàn có thể bứt phá để vươn lên như trường hợp Đà Nẵng hiện nay- đã có những mặt vượt qua TP HCM về chất lượng của đô thị văn minh hiện đại. 

TS. Nguyễn Hữu Nguyên

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.