Tìm hiểu tính khả thi của các giải pháp giảm ùn tắc và tai nạn giao thông ở TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2016-2020

Trung tâm CSS xin trân trọng giới thiệu bài viết của TS. Nguyễn Hữu Nguyên cộng tác viên của Trung tâm  về Tìm hiểu tính khả thi của các giải pháp giảm ùn tắc và tai nạn giao thông ở Tp. Hồ Chí Minh từ 2016-2020.

 

Bài viết được đăng trong kỷ yếu hội thảo khoa học " “Các giải pháp giảm ùn tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông giai đoạn 2016-2020 trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh” ngày 29/03/2016 do Sở GTVT và Trường Đại học quốc tế phối hợp tổ chức


TÌM HIỂU TÍNH KHẢ THI CỦA CÁC GIẢI PHÁP GIẢM ÙN TẮC VÀ TAI NẠN GIAO THÔNG Ở TP HCM TỪ 2016 -2020

TÓM TẮT


          Nghị quyết đại hội Đảng TP HCM đã xác định GTVT là một trong 7 chương trình đột phá-trong đó giảm ùn tắc và tai nạn giao thông là vấn đề mang tính cấp bách. Chủ đề của cuộc hội thảo là tìm giải pháp cụ thể nhằm thực hiện nghị quyết đó nên đã nêu ra 6 vấn đề gồm: hiệu quả vận tải hành khách, kiểm soát vi phạm, kết cấu hạ tầng giao thông, chính sách pháp luật, ứng dụng khoa học công nghệ, tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông. Định hướng cho các giải pháp đó là: nâng cao, tăng cường, đẩy mạnh, hoàn thiện…Do vậy bài viết này tiếp cận nghiên cứu theo hướng tìm hiểu thực trạng của từng vấn đề để đánh giá tính khả thi của từng hướng giải pháp. Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp cụ thể và dự báo mức độ chuyển biến đến 2020.   

***

Đặt vấn đề:


          Cuộc hội thảo nhằm tìm ra những giải pháp kéo giảm ùn tắc và tai nạn giao thông ở TP HCM trong khoảng thời gian hơn 4 năm(từ nay đến 2020). Trong nghị quyết đại hội Đảng TP đã xác định 7 chương trình đột phá-trong đó có giao thông-thì chắc hẳn đã phải lựa chọn cơ sở lý luận, thực tiễn và đã có những ý tưởng về những giải pháp cơ bản. Do vậy, sáu vấn đề đòi hỏi phải nâng cao, tăng cường, đẩy mạnh, xây dựng, hoàn thiện…mà hội thảo nêu ra có thể coi như các hướng giải pháp cơ bản cho giao thông ở TP HCM. Tuy nhiên, từ trước đến nay không phải chưa tăng cường, đẩy mạnh…những lĩnh vực đó nhưng tại sao vẫn chưa đạt hiệu quả ? Vậy  có lẽ cuộc hội thảo này không cần phải đề xuất thêm hướng giải pháp khác-mà cần tìm hiểu sâu hơn những vấn đề sau đây: một là có thể tăng cường đẩy mạnh…hơn trước đây được không ? hai là sau 4 năm có thể giảm ùn tắc và tai nạn giao thông đến mức nào?  Để trả lời hai câu hỏi trên cần tìm hiểu tính khả thi của các vấn đề mà hội thảo nêu ra, trên cơ sở đó có thể dự báo kết quả sau 4 năm. Đó là cách đặt vấn đề và hướng tiếp cận nghiên cứu của bài viết này.


 1-Tìm hiểu tính khả thi của giải pháp “nâng cao hiệu quả hoạt động vận tải hành khách và hàng hóa, quả lý nhu cầu giao thông cá nhân”.


- Đối với vấn đề nâng cao hoạt động vận tải hành khách: theo các nguồn tin công khai (TV, báo chí) và từ các cuộc hội thảo về giao thông ở TP HCM thì từ hàng chục năn nay, chương trình xe Bus luôn trong tình trạng lãng phí hàng trăm tỷ đồng mỗi năm nhưng hiệu quả rất thấp-chỉ thu hút được khoảng từ 6 đến 8% nhu cầu đi lại của người dân TP. Có những ý kiến cho rằng do người dân chưa có “thói quen” sử dụng phương tiện công cộng như ở các nước khác, hoặc do xe bus chưa hấp dẫn vì còn có tệ nạn móc túi, cướp dật và kém tiện nghi…Những ý kiến đó không sai nhưng chỉ chiếm phần nhỏ. Nếu nghiên cứu sâu hơn sẽ thấy những nguyên nhân khác lớn hơn rất nhiều: một là số lượng đường lớn mà xe bus có thể hoạt động tốt trong thành phố chỉ chiếm 1/3, còn lại cư dân sống ở khu vực có 2/3 số đường nhỏ và hẻm mà xe bus không hoạt động được. Hai là đặc điểm hoạt động kinh tế vỉa hè và kinh tế mặt tiền tạo ra nhu cầu đi lại không theo tuyến nên xe bus không đáp ứng được. Ba là TP HCM không hình thành các phân khu chức năng rõ ràng nên các tuyến xe bus không thu hút được nhiều khách. Như vậy chương trình xe bus vừa lãng phí, vừa kém hiệu quả, không đáp ứng yêu cầu của số đông nhưng vì sao vẫn kéo dài? Điều này chỉ có cơ quan chức năng và cấp lãnh đạo TP mới đủ quyền hạn trả lời.

 

Với những đặc điểm về hạ tầng giao thông và hoạt động kinh tế ở TP HCM như đã trình bày-nhưng nhiệm kỳ này TP đề ra “tăng cường phương tiện có sức chở lớn” thì có thể hiệu quả sẽ giống như chương trình xe bus. Trong cuộc hội thảo 40 năm ngành GTVT TP, một vị GS đã nói: nếu làm xong tuyến Metro, tôi vẫn đi xe máy.

 

Giải pháp cho vấn đề giao thông công cộng nên là đa dạng hóa kích cỡ phương tiện theo hướng giảm cỡ lớn, tăng cỡ trung và cỡ nhỏ để thích hợp với từng loại đường giao thông trên từng khu vực.

 

- Đối với vấn đề nâng cao “quản lý nhu cầu giao thông cá nhân”. Nếu kiên quyết cấm xe máy để giảm ùn tắc và tại nạn thì hệ quả xã hội còn lớn hơn rất nhiều vì xe máy không chỉ là phương tiện đi lại mà nó còn là phương tiện mưu sinh không thể thiếu-vì nó như “đôi chân nối dài” của phần lớn người dân lao động TP-khi xe bus chưa đáp ứng được. Nếu muốn giảm phương tiện xe máy bằng cách tăng cường chương trình xe bus thì sẽ rơi vào nghịch lý: đường hẹp, xe lớn, xe nhiều khách ít-và trở thành thủ phạm chính gây kẹt xe và tiếp tục lãng phí.

 

Giải pháp cho vấn đề này là xây dựng “văn hóa giao thông xe máy” và điều chỉnh cách phân luồng hợp lý theo tương quan số lượng phương tiện.

 

Tóm lại lĩnh vực này không xác định rõ được các mục tiêu cần “nâng cao” cái gì ?- vì nếu nâng cao sức chở của phương tiện công cộng thì không phù hợp với nhu cầu đi lại của số đông và tiếp tục lãng phí- nếu nâng cao biện pháp hạn chế xe cá nhân thì tác động tiêu cực lớn hơn đến kinh tế và xã hội. Như vậy, sau 4 năm nữa, lĩnh vực này khó có thể chuyển biến đáng kể

 

2-Về giải pháp tăng cường kiểm soát, xử lý nghiêm vi phạm, điều phối các lực lượng điều tiết giao thông, kiên quyết lập lại trật tự lòng lề đường, vỉa hè.

 

- Đối với vấn đề tăng cường kiểm soát, xử lý nghiêm vi phạm: có thể cân nhắc giữa hai cách: một là tăng số lượng cảnh sát giao thông-cách này sẽ phải tăng quỹ lương và hiệu quả thấp hơn và có thể tăng thêm tiêu cực. Cách thứ hai là tăng số lượng camera kiểm soát và điều hành giao thông-cách này hiệu quả cao hơn đối với người tham gia giao thông và người thi hành công vụ vì nó bảo đảm tính minh bạch, hạn chế được tiêu cực, vốn đầu tư cho thiết bị này cũng tiết kiệm hơn so với tuyển thêm cảnh sát giao thông. Cách này là xu thế chung của các đô thị hiện đại trên thế giới.

 

- Đối với vấn đề xử lý nghiêm vi phạm: đây là trách nhiệm của cảnh sát giao thông nên trước hết người thi hành công vụ phải nghiêm minh mới có thể xử lý nghiêm với người vi phạm. thời gian qua, CA TP đã mở nhiều đợt học tập văn hóa ứng xử, học tập theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ…nhưng sự chuyển biến khá chậm chạp. Hãy nghe câu chuyện của những tài xế và những người bị phạt sẽ hiểu mức độ rất thấp của sự nghiêm minh. Một cán bộ công an  ở HN đã từng nói đến việc có định mức thu tiền phạt ở mỗi khu vực…Nếu hiện tượng đó là phổ biến và có ở TP HCM thì tính khả thi của vấn đề xử phạt nghiêm sẽ rất hạn chế về ý nghĩa giáo dục. Cảnh sát giao thông ở TP HCM rất vất vả vì nắng nóng, khói bụi và có cố gắng rất lớn để duy trì giao thông ở một thành phố gần 10 triệu dân nhưng những biểu hiện tiêu cực cũng không ít nên sự tôn trọng và quý mến của nhân dân cũng giảm sút.


Giải pháp cho vấn đề này là nâng cao phẩm chất, đạo đức của cảnh sát giao thông để làm gương cho nhân dân


- Đối với vấn đề “kiên quyết lập lại trật tự lòng lề đường và vỉa hè”. Có hai kịch bản: một là nếu sử dụng những biện pháp mạnh mang tính cưỡng bách thì có thể thực hiện được điều đó nhưng hệ quả kinh tế-xã hội sẽ là số người nghèo và thất nghiệp sẽ tăng cao, đối tượng phải xóa đói giảm nghèo sẽ nhiều hơn, các tệ nạn xã hội cũng sẽ tăng và quan trọng hơn là khi cuộc sống khó khăn thì lòng dân cũng dễ bất bình khi có những biến động xã hội. Hai là phải chấp nhận cho sử dụng một phần lòng đường và vỉa hè để buôn bán và đậu xe máy, chỉ cấm ở một số nơi đặc biệt. Như vậy trong hoàn cảnh cụ thể của TP, nếu muốn đạt được mục tiêu về mặt này thì phải chấp nhận hệ quả tiêu cực ở mặt khác. Do đó lựa chọn mặt nào tùy thuộc vào trình độ, quyền hạn và trách nhiệm của lãnh đạo TP.

Giải pháp cho vấn đề này nên theo kịch bản thứ hai-chấp nhận khó khăn của người đi bộ(chiếm tỷ lệ rất thấp)sử dụng vỉa hè như diện tích giao thông tỉnh và phương tiện mưu sinh của người nghèo.

 

3-Tìm hiểu tính khả thi của giải pháp: “phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông, khai thác có hiệu quả hạ tầng hiện hữu”

 

- Đối vớ khả năng “phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng giao thông”. Trước hết cần hiểu là tính “đồng bộ” của kết cấu hạ tầng giao thông phải có sự cân đối hợp lý của ít nhất 5 yếu tố sau: 1-tỷ lệ diện tích dành cho giao thông đạt tiêu chuẩn quốc tế.;  2-Phân bố mật độ giao thông tương đối đều và hợp lý giữa các khu vực.; 3-Có tỷ lệ hợp lý giữa các loại phương tiện giao thông mang tính bổ sung cho nhau; 4-Cân bằng giữa diện tích giao thông động và giao thông tĩnh; 5-Có thiết bị kỹ thuật đáp ứng yêu cầu kiểm soát và điều hành giao thông. Trên thực tế, cả 5 lĩnh vực này ở TP HCM đang ở tình trạng mất cân đối nghiêm trọng-cụ thể là: tỷ lệ diện tích dành cho giao thông quá thấp so với tiêu chuẩn, xe máy quá nhiều, xe bus quá lớn so với đường, đường sắt đô thị-metro chưa làm xong, tỷ lệ diện tích cho giao thông tĩnh quá thấp so với nhu cầu dừng, đậu của số lượng phương lớn tiện giao thông, thiết bị kiểm soát và điều khiển giao thông còn quá ít so với gần 7 triệu phương tiện lưu thông hàng ngày…Vậy sau 4 năm nữa TP không thể tăng đáng kể tỷ lệ diện tích giao thông trong nội đô để đạt tiêu chuẩn quốc tế là trên 20% và ngay cả diện  tích giao thông tĩnh cũng không còn quỹ đất. Sau 4 năm TP có thể đã hoàn thành dự án Metro, tăng thêm phương tiện chuyên chở lớn và tăng thêm thiết bị công nghệ cao để điều khiển giao thông…nhưng các yếu tố đó không thay đổi căn bản tình hình giao thông ở nội đô vì không thay đổi được căn bản yếu tố quyết định nhất là tỷ lệ diện tích và mật độ giao thông. Tóm lại, có thể cải thiện được từng phần sự mất cân đối hiện nay chứ chưa đạt đựơc sự “đồng bộ” về kết cấu hạ tầng giao thông như mong muốn

 

Giải pháp cải thiện tính đồng bộ nên là đa dạng hóa kích cỡ của phương tiện giao thông công cộng theo hướng giảm phương tiện có kích cỡ và sức chở lớn

 

- Đối với kết cấu hạ tầng hiện hữu: có thể khai thác hiệu quả hơn hiện nay nếu xây dựng được “văn hóa giao thông” tốt hơn trên cả hai mặt: văn hóa thực thi và văn hóa chấp hành luật pháp-tuy nhiên cũng chưa thể giải quyết căn bản tình hình giao thông ở TP vì xây dựng văn hóa giao thông là một quá trình lâu dài, không thể tính bằng số năm mà phải tính bằng số thập kỷ

 

Giải pháp xây dựng văn hóa giao thông nên theo thứ tự ưu tiên: xây dựng văn hóa thực thi pháp luật đi trước một bước để thúc đẩy văn hóa chấp hành luật giao thông

 

4-Tìm hiểu tính khả thi của giải pháp: “xây dựng hoàn thiện chính sách pháp luật, cơ cấu tổ chức về quản lý giao thông đô thị


- Đối với vấn đề hoàn thiện chính sách, pháp luật: Luật giao thông của VN đã khá đầy đủ, không kém so với các nước tiên tiến-cho nên vấn đề không phải là bổ xung hay sửa chữa luật mà quan trọng hơn là nâng cao ý thức cho cơ quan thực thi luật pháp. Nói cách khác, luật giao thông không sai, không thiếu nhưng còn thiếu người thực thi nghiêm túc. Trong chương trình xây dựng văn hóa giao thông do VTV1 thực hiện, một vị khách mời là chuyên gia đô thị cho rằng: do còn nhiều thói quen của cuộc sống ở nông thôn nên công an giao thông hay nể nang đối với người vi phạm nên luật pháp không được thực thi nghiêm túc. Riêng điều này thì nên nghe ý kiến người dân và những người đã từng lỡ vi phạm sẽ hiểu cách làm thế nào để được “nể nang”.


- Đối với cơ cấu tổ chức quản lý giao thông đô thị: vấn đề này từ trước đến nay vẫn quản lý giao thông theo địa bàn, lãnh thổ hành chính và đã định hình và chặt chẽ. Vậy nên “hoàn thiện” cơ cấu này hay thay đổi ? Trên thực tế cơ cấu tổ chức quản lý giao thông theo ranh giới lãnh thổ hành chính bộc lộ nhược điểm là hạn chế tính linh hoạt khi xử lý tình huống giao thông vì xảy ra ở địa bàn nào thì phải do lực lượng của đơn vi ấy giải quyết. Do vậy có thể nghiên cứu cơ cấu tổ chức quan lý theo vùng, không lệ thuộc vào ranh giới hành chính thì có thể nâng cao hơn tính linh hoạt.


Tóm lại yêu cầu hoàn thiện lĩnh vực chính sách, luật pháp và cơ cấu tổ chức quản lý giao thông là cần thiết nhưng không phải là giải pháp liên quan trực tiếp đến vấn đề giảm ùn tắc và tai nạn giao thông


5-Tìm hiểu tính khả thi của giải pháp: “tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ và công nghệ thông tin trong quản lý điều hành GTVT ”


Đây chỉ là giải pháp kỹ thuật quản lý giao thông, nó không khắc phục được tận gốc những nguyên nhân gây ùn tắc và tại nạn giao thông nhưng nó có thể tham gia trực tiếp vào lĩnh vực xây dựng văn hóa giao thông ở cả hai phía: người tham gia giao thông và người thực thi pháp luật


Đối với người tham gia giao thông, hệ thống bảng hiệu và đèn tín hiệu nhắc nhở người ta chấp hành quy định giao thông. Đặc biệt hệ thống camera theo dõi chính xác các trường hợp vi phạm nên nó có tác dụng giáo dục ý thức giao thông hiệu quả hơn nhiều so với tiếp xúc trực tiếp với cảnh sát giao thông-vì nó minh bạch, khách quan, không thể “mặc cả” và không nảy sinh cãi vã xung đột


Đối với người thi hành công vụ: hệ thống camera hoàn chỉnh giúp có thể theo dõi tình hình giao thông toàn cục và cụ thể từng điểm nóng-trên cơ sở đó có thể điều phối lực lượng nhanh chóng, kịp thời. Việc “phạt nguội” căn cứ vào camera có thể loại trừ được những hành vi tiêu cực, nhận tiền hối lộ của những cá nhân thiếu phẩm chất


Có thể ví camera là người cảnh sát giao thông có đôi mắt tinh tường, không mệt mỏi, hoàn toàn khách quan, nghiêm khắc và không vụ lợi. Đó là phương tiện giáo dục tốt nhất để xây dựng văn hóa giao thông đối với cả người tham gia và người điều hành luật giao thông.Do đó nếu được trang bị và quản lý tốt, biện pháp này sẽ giảm được đáng kể tình trạng ùn tắc và tại nạn giao thông trong TP


6-Tìm hiểu tính khả thi của giải pháp “đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về trật tự, an toàn giao thông”.


Đây là biện pháp mang tính căn bản và lâu dài-bắt đầu từ tuổi mầm non, học sinh tiểu học đến người trưởng thành-nhưng hiệu quả tùy thuộc vào việc xác định rõ mối quan hệ biện chứng giữa đối tượng chấp hành luật pháp và đối tượng thi hành pháp luật-trên cơ sở đó xác định mục tiêu chủ yếu và những bước đi.


Khi nói về nâng cao ý thức “chấp hành” pháp luật về trật tự an toàn giao thông” dường như chỉ hướng vào người tham gia giao thông. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cả phương tiện truyền thông đại chúng cũng thường nhấn mạnh vấn đề “ý thức người dân còn kém” như là nguyên nhân chủ yếu gây ra ùn tắc và tai nạn giao thông. Nhìn từ hiện tượng thì đúng là như thế-nhưng nhìn từ mối quan hệ biện chứng giữa thực thi pháp luật và chấp hành pháp luật thì tình trạng ý thức người dân còn kém lại thuộc về trách nhiệm của cơ quan thực thi pháp luật vì cơ quan này không phải sinh ra chỉ để phạt-mà nhiệm vụ quan trọng hơn là xây dựng ý thức chấp hành luật pháp cho người dân. Thế nhưng, trên thực tế chức năng, nhiệm vụ này lại bị coi nhẹ nên những người vô tình vi phạm cảm thấy bị “trừng phạt” nhiều hơn là được nhắc nhở, tuyên truyền giáo dục-trong khi những người có tình vi phạm có thể dung tiền để cho qua. Từ đó xuất hiện tâm lý e ngại, né tránh cảnh sát giao thông nhưng không tôn trọng...


Như vậy muốn tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức chấp hành luật pháp cho nhân dân thì trước hết cơ quan chức năng là cảnh sát giao thông phải gương mẫu về tư cách đạo đức và phải biết tôn trọng nhân dân và phải có thái độ ứng xử với người không cố ý phạm lỗi khác với người cố tình phạm luật. có nhiều ý kiến cho rằng cần tăng mức phạt để đủ sức răn đe nhưng nếu người phạt không đủ phẩm chất đạo đức thì mức phạt càng cao thì càng kích thích khả năng “chia đôi” nhiều hơn. Do đó để nâng cao hiệu quả tuyên truyền giáo dục nên theo phương châm: “mức phạt không bằng cách phạt”-đó là cách phạt để người nộp phạt cảm thấy đó là sự nhắc nhở, giáo dục chứ không phải là sự trừng phạt.


          Tóm lại, giải pháp tuyên truyền giáo dục ý thức chấp hành luật giao thông là công tác thường xuyên, kiên trì không thể đạt kết quả chỉ bằng những đợt “ra quân” mang tính hình thức.

Phần kết:

          Sau khi tìm hiểu tính khả thi của sáu hướng giải pháp mà hội thảo đề ra có thể phát hiện một số vấn đề chung sau đây:

-Những yếu tố liên quan trực tiếp đến vấn đề giảm ùn tắc và tai nạn giao thông gồm bốn vấn đề: một là kết cấu hạ tầng giao thông(gồm đường xá, phương tiện kỹ thuật kiểm soát, điều khiển giao thông, phương tiện giao thông). Hai tổ chức giao thông. Ba là người tham gia giao thông. Bốn là thực thi luật giao thông. Trong đó kết cấu hạ tầng và thực thi luật pháp là hai yếu tố quyết định mức độ kéo giảm ùn tắc và tai nạn giao thông nhiều hơn là đòi hỏi người dân phải tự có ý thức.


-Theo chỉ đạo của UBND TP là tìm giải pháp giảm ùn tắc và tai nạn-nhưng chưa “định mức giảm cụ thể” nên chưa có cơ sở để xác định tính hiệu quả của các biện pháp- vì đến cuối nhiệm kỳ chỉ kéo xuống 1% cũng là đã giảm nhưng không có ý nghĩa là chương trình “đột phá”. Do vậy phải chăng cuộc hội thảo này mang tính định hướng nhiều hơn tính thực tiễn và cụ thể ?


Tài liệu tham khảo:

1-Sở GTVT-TP HCM, Trường ĐH KHXH&NV TP HCM: “Hình thành và phát triển bền vững GTVT TP HCM,  NXB ĐH QG TP HCM-quý IV-201

 2-Trường ĐH Thủ Dầu Một, TT nghiên cứu đô thị và phát triển: Kỷ yếu hội thảo khoa học: “20 năm đô thị hóa Bình Dương những vấn đề thực tiễn Bình Dương-2015

 3-PGS TS Tôn Nữ Quỳnh Trân, PGS TS Nguyễn Văn Hiệp: “20 năn đô thị hóa Nam Bộ-lý luận và thực tiễn, NXB ĐHQG TP HCM-quý III-2015

4-Viện NCPT, sở GTVT, báo SGGP, sở quy hoạch kiến trúc TP HCM: Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Làm thế nào để vận tải hành khách công cộng trở thành phương tiện đi lại chính của người dân TP HCM.

TP HCM-2016

 

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.