Tìm hiểu mục tiêu đột phá cụ thể của chương trình nâng cao chấp lượng nguồn nhân lực ở Tp HCM

Trung tâm CSS giới thiệu bài viết của TS. Nguyễn Hữu Nguyên về mục tiêu đột phá cụ thể của chương trình nâng cao chất lượng  nguồn nhân lực ở TP. Hồ Chí Minh 

Tìm hiểu mục tiêu đột phá cụ thể của chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

 ở Tp HCM

 Dự thảo báo cáo chính trị đại hội Đảng bộ lần thứ X của TP HCM đã xác định nhiệm vụ của GDĐT: phấn đấu đến năm 2020 hệ thống GDĐT  thành phố được chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập với các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới…”. Trong đó chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong 7 chương trình đột phá của nhiệm kỳ 2016-2020-với nhiệm vụ cụ thể : “Vừa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chung vừa chú trọng xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với phát triển khoa học công nghệ, tập trung cho những ngành, lĩnh vực có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao, có vai trò quyết định, tạo bước đột phá trong phát triển kinh tế, văn hóa xã hội thành phố”.

 

Để có thể tạo được bước đột phá trong lĩnh vực này, trước hết ngành GDĐT cần làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn  sau đây:

 

Một là: về lý luận, đột phá về GDĐT có thể đạt kết quả trong một nhiệm kỳ 5 năm được không ? Bác Hồ đã nhắc câu nói của người xưa: “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng người”-câu nói đó hàm nghĩa: GDĐT  là sự nghiệp “trồng người”, có lợi ích lâu dài nhưng kết quả không đến nhanh như trồng cây. Trong khi đó nền giáo dục nước ta lại đang đứng ở trình độ phát triển còn khá thấp so với khu vực và thế giới. Cụ thể là nước ta chưa có trường đại học nào đứng trong tốp 500 của thế giới, đội ngũ GS, PGS, TS Việt Nam có trên 24 ngàn đông nhất ĐNA nhưng có ít nhất công trình nghiên cứu cấp khu vực nhưng đội ngũ này đang giảng dạy ở các trường đại học thì không thể đòi hỏi nhanh chóng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Mặt khác, chương trình đổi mới căn bản và toàn diện GDĐT còn đang loay hoay với những thay đổi gây bức xúc xã hội -như thi cử, “tích hợp”…Riêng GDĐT của tp có 6 chương trình nhánh, đã thực hiện 4 năm nhưng còn nhiều khó khăn do 4 nguyên nhân: thời gian xây dựng kế hoạch phải kéo dài…Phân công cơ quan đầu mối chưa rõ ràng…Hướng dẫn và phối hợp thực hiện chưa chặt chẽ…Thiếu ngân sách. Nếu so sánh thực trạng với yêu cầu nhiệm vụ và thời gian thực hiện thì dường như đây nhiệm vụ vượt quá khả năng hoàn thành.

 

Hai là: Lựa chọn ngành, lĩnh vực cụ thể nào có hàm lượng công nghệ, giá trị gia tăng cao…để tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực? - Hiện nay ở thành phố có rất nhiều ngành và lĩnh vực cần nâng cao hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng như: công nghiệp nặng, xây dựng, giao thông vận tải, tài chính ngân hàng, y tế, công nghệ thông tin…Nếu không xác định đúng ngành nghề chủ yếu thì việc đột phá có thể bị lãng phí, hoặc không đủ sức. Như vậy phải có cơ quan chịu trách nhiệm xác định những ngành nghề có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao nhất.  

 

 Ba là: tính chất và yêu cầu nhiệm vụ có phù hợp với chức năng của ngành GDĐT không ? Nếu xác định tập trung vào lĩnh vực “có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao”-tức là giới hạn vào lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ-nhưng lại phải “ có vai trò quyết định tạo đột phá trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội thành phố”- tức là phải bao quát toàn bộ sự phát triển-điều đó không thuộc chức năng của GDĐT. Đây cũng là vấn đề nhận thức nhiệm vụ cần làm rõ.

 

Bốn là: vấn đề xác định mục tiêu đột phá cụ thể . Như trên đã nêu, thành phố có 6 chương trình đào tạo đã được thực hiện 4 năm nhưng chưa tạo ra kết quả vượt trội và còn tồn tại nhưng khó khăn, vướng mắc. Sáu chương trình đó là: nâng cao chất lượng giáo dục đại học và cao đẳng, nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đào tạo đội ngũ doanh nhân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa nghệ thuật, đào tạo nguồn nhân lực cho lĩnh vực y tế, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị. Trong 6 chương trình đó, không có nội dung nào trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho các ngành có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao . Và cho dù có đột phá cả 6 chương trình thì trong một nhiệm kỳ 5 năm cũng không đủ để tạo ra yếu tố quyết định phát triển đột phá về kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố-. Vì điều đó thuộc về chiến lược, chính sách và vốn đầu tư. 

***

Khi đặt vấn đề đột phá vào chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho những lĩnh vực có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao, trước hết cần chỉ rõ đó là những lĩnh vực nào. Đồng thời căn cứ vào thực tế trình độ GDĐT của nước ta còn khá thấp so với thế giới và khu vực để đặt ra yêu cầu vừa sức và khả thi. Như vậy có lẽ hướng đột phá của nhiệm kỳ này nên nhằm vào việc khai thông những “điểm nghẽn” và yếu kém nhất về GDĐT thì sẽ có lẽ thực tế hơn so với việc chỉ hướng đến những “tiêu chí” cao của giáo dục khu vực và thế giới. Những điểm nghẽn đễ nhận thấy nhất hiện nay là: chưa xác định được một triết lý giáo dục Việt Nam, mâu thuẫn giữa thực hiện và chiến lược(tăng vọt học phí sẽ giảm dân trí), nội dung và chương trình giáo dục đã lạc hậu, không phù hợp với từng lứa tuổi, phương pháp giảng dạy áp đặt, hạn chế tính sáng tạo- và điều đáng lo ngại hơn là sự suy giảm về đạo đức giáo dục nên rất khó giáo dục đạo đức cho giới trẻ. 

 

Khắc phục những điểm nghẽn nêu trên chính là “kế sách trăm năm trồng người” và phải bắt đầu từ mẫu giáo đến khi trở thành người lao động- mới có thể tạo được “nguồn nhân lực chất lượng cao”. Đó là quy trình rất chặt chẽ giống như trồng lúa: nếu chọn giống, gieo mạ, cấy lúa…mà không làm tốt-đợi đến khi lúa sắp trổ bông mới chăm sóc “đột phá” thì sẽ không kịp tạo ra những hạt thóc tốt. Như vậy cần đặt ra vấn đề lựa chọn giữa phát triển GDĐT một cách căn cơ và đồng bộ với đột phá nhưng chưa rõ cả về lý luận và mục tiêu cụ thể-vì đối với vấn đề đột phá, việc chỉ rõ mục tiêu đã khó, đột phá thành công còn khó hơn gấp bội. 

TS Nguyễn Hữu Nguyên

Trung tâm NCCL&CSQG

 

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.