TS. Nguyễn Hữu Nguyên - Phác thảo giá trị VIệt Nam từ truyền thống đến hiện đại

Hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau liên quan đến “giá trị” như: giá trị văn hóa, giá trị đạo đức, giá trị lịch sử, giá trị khoa học, … và được phân thành hai mặt là: giá trị vật chất và giá trị tinh thần.

I. Tìm hiểu cơ sở lý luận về hệ giá trị Việt Nam truyền thống và hiện đại

Hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau liên quan đến “giá trị” như: giá trị văn hóa, giá trị đạo đức, giá trị sử dụng, giá trị lịch sử, giá trị khoa học, giá trị nhân văn, giá trị truyền thống, bản sắc văn hóa, đặc trưng văn hóa… và được phân thành hai mặt là: giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Bài viết này không nhằm khảo sát lại tất cả những cách định nghĩa về giá trị của phương Đông và phương Tây, không nhằm bác bỏ, phủ nhận cách này hay theo cách kia mà là trình bày một cách tiếp cận khác làm cơ sở lý luận cho việc “phác thảo hệ giá trị Việt Nam”. Cách tiếp cận này kế thừa, chọn lọc nhưng không sao chép.

Sau đây là những phân tích cụ thể:

- Khái niệm “giá trị” dùng để chỉ sự “đáng giá” – tức là cái gì tốt đẹp nhất cho lợi ích chính đáng của con người, thuộc giá trị vật chất hay giá trị tinh thần. Nói cách khác, “giá trị” hàm nghĩa là “sự tốt đẹp vượt trội hơn so với các mặt khác”. Ví dụ giá trị của một trái cây là “vị ngon nhất và chất bổ nhất của nó”, giá trị của một bông hoa là “hương thơm nhất, sắc mầu đẹp nhất của nó”. Giá trị của một con người cũng tương tự như thế – là năng lực trội nhất và tính cách đẹp nhất của chính người đó. Tuy nhiên, đó không phải là năng lực và tính cách duy nhất, mà con người còn có những năng lực tính cách khác nhưng không nổi trội bằng. Đó là “quy luật phát triển không đều” (nhân vô thập toàn).

- Mỗi quốc gia, mỗi cộng đồng là tập hợp của nhiều cá thể nên cũng chứa đựng nhiều mặt năng lực và nhiều mặt tính cách. Do đó, những “năng lực kiến tạo nổi trội nhất” và những “tính cách nhân văn tốt đẹp nhất” mới được coi là giá trị của quốc gia đó.

- Quốc gia nào, cộng đồng nào cũng có giá trị của mình nhưng không có nghĩa là chỉ có mặt tốt mà không có những mặt yếu hay khiếm khuyết. Nếu “âm tính” là chậm phát triển so với “dương tính” thì “trọng âm” là mặt yếu nên không gọi là GTVN. Nếu một người đàn ông được coi là “trọng âm” thì có thể do yếu tố giới tính hay sức khỏe, chứ không gọi đó là “giá trị” – mà là một “đặc điểm” của người đó.

- Giá trị của một quốc gia không phải là “phép tính cộng” năng lực và tính cách của từng cá thể mà là “tổng hòa những giá trị nổi trội của cộng đồng mà đại diện là của bộ phận tinh hoa”.

- Giá trị của một quốc gia không phải là một học thuyết, hệ tư tưởng, chủ nghĩa hay tôn giáo, cũng không phải là những “chỉ tiêu” của “nghị quyết”… mà là năng lực và tính cách dân tộc đã được tôi luyện, thử thách trong lịch sử lâu dài dựng nước và giữ nước. Nói cách khác, “giá trị” không hình thành trong “một sớm một chiều” mà có tính bền vững do đã được thử thách qua lịch sử lâu dài.

- Như vậy, hệ giá trị Việt Nam truyền thống hình thành và bền vững trong thử thách của lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước. Do đó, hệ giá trị Việt Nam hiện đại phải là sự kế thừa về bản chất, nội dung, chỉ có sự thay đổi về hình thức biểu hiện trong hoàn cảnh lịch sử mới.

- Từ cách hiểu trên có thể khái quát phương pháp nghiên cứu là: đặt ra những giả thuyết về hệ giá trị Việt Nam, chứng minh bằng lịch sử để xác định những giá trị truyền thống. Sử dụng phép biện chứng và logich để tìm hiểu sự biến đổi về hình thức của những giá trị hiện đại.

II. Phác thảo những giá trị Việt Nam truyền thống – minh chứng lịch sử

1. Ý chí bền bỉ - chịu khó và vượt khó

Ý chí bền bỉ có thể chứng minh bằng quãng thời gian hàng ngàn năm mở mang bờ cõi có chiều dài gần 3000 km. Quá trình đó có những cuộc khác chiến trường kỳ đầy hy sinh gian khổ... Sự chịu khó và vượt khó có thể chứng minh bằng những khó khăn trong quá trình chinh phục thiên nhiên mà văn học dân gian còn ghi nhớ như: “…chuông nhà Hồ… phá Tam giang”, “…phá sơn lâm, đâm hà bá”, “…dưới sông sấu lội trên rừng cọp um”,… Ý chí bền bỉ, chịu khó và vượt khó được thể hiện rất rõ trong 30 năm kháng chiến chống hai đế quốc lớn nhất thời đại.

2. Ý chí bất khuất và tự cường dân tộc

Ý chí bất khuất được chứng minh bằng số lượng hàng chục lần khởi nghĩa và kháng chiến chống lại các kẻ thù hùng mạnh nhất của các thời đại. Tinh thần tự cường dân tộc được minh chứng bằng truyền thống “tự lực cánh sinh” trong tất cả các cuộc kháng chiến cam go nhất. Ý chí đó được thể hiện ở các sự kiện như hội nghị Diên Hồng thời Trần, hội nghị Tân Trào thời Hồ Chí Minh.

3. Tài năng quân sự và tinh thần dũng cảm

Tài năng quân sự Việt Nam được cả thế giới thừa nhận, thể hiện qua nhiều lần chiến thắng các thế lực hùng mạnh nhất thế giới – từ Nguyên Mông đến Pháp, Mỹ – trong khi Việt Nam chỉ có những đội quân nhỏ hơn, vũ khí ít hơn và kém hiện đại hơn. “Chiến tranh nhân dân” có sức mạnh vô địch đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử Việt Nam và đạt đỉnh cao từ thế kỷ XIII. Việt Nam có những tài năng quân sự thuộc hàng danh tướng thế giới.

Tinh thần dũng cảm của người Việt được minh chứng bằng vô số những anh hùng, chiến sỹ đã hy sinh dũng cảm trong kháng chiến và trong công cuộc chinh phục thiên nhiên.

4.Lạc quan và hài hước

Chỉ có tinh thần lạc quan mới có thể chịu đựng khó khăn một các bền bỉ trong những cuộc kháng chiến trường kỳ. Lạc quan và hài hước là hai mặt gắn liền với nhau – đó là kho tàng truyện “tiếu lâm”, chuyện Trạng Quỳnh, Ba Giai - Tú Xuất, Bác Ba Phi… Trong chiến tranh có khẩu hiệu "tiếng hát át tiếng bom”. Dù gặp rủi ro, người Việt vẫn tìm ra điều gì đó để thấy vẫn còn may nên thường nói “may quá”, “của đi thay người”.

5. Dung hợp các giá trị văn hóa

Giá trị này được chứng minh rất rõ trong lịch sử Việt Nam: Chính lớp trí thức tiếp thu văn hóa Nho học đã lãnh đạo nhân dân đánh bại tất cả các cuộc xâm lược của phong khiến phương Bắc, Lớp trí thức tiếp thu văn hóa phương Tây đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đánh bại thực dân đế quốc hùng mạnh nhất của phương Tây…

Người Việt có khả năng rất đặc biệt là dung hợp tất cả các tinh hoa của các nền văn hóa khác để tạo thành sức mạnh của mình mà không bị “đồng hóa”. Điều đó lý giải vì sao Việt Nam có thể đánh thắng tất cả các thế lực xâm lăng mạnh nhất thế giới.

6. Khéo léo, năng động, sáng tạo

Người Việt không có các công trình kiến trúc đồ sộ nhưng sự khéo léo được thể hiện ở sự tinh xảo của các sản phẩm thủ công như gốm sứ, đan lát, dệt may. Trong chiến tranh, tính năng động, sáng tạo thể hiện qua khả năng “tự chế” rất nhiều loại vũ khí như bom ba càng, lựu đạn gài, SKZ, hầm chông, địa đạo..., đồng thời cũng tiếp thu rất nhanh các kỹ thuật quân sự hiện đại như không quân, tên lửa.

7. Đoàn kết cộng đồng và tính thực tế

Việt Nam đã lưu truyền từ lâu đời rất nhiều thành ngữ, tục ngữ nói về tình đoàn kết như: đồng bào, ba cây chụm lại nên hòn núi cao, lá lành đùm lá rách, một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ,… Tinh thần đoàn kết thể hiện cao độ trong các cuộc kháng chiến như: hội nghị Diên Hồng thời Trần, hội nghị Tân Trào thời Hồ Chí Minh. Tính thực tế thể hiện qua quan niệm: có thực mới vực được đạo, trăm nghe không bằng một thấy, học hành…

III. Giá trị Việt Nam hiện đại – sự kế thừa bản chất và sự biến đổi hình thức biểu hiện

1.  Ý chí bền bỉ, chịu khó và vượt khó: vẫn thể hiện rất rõ trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội và chiến tranh biên giới hai đầu đất nước, vượt qua những khó khăn tưởng chừng như không thể…

2. Ý chí bất khuất, tự cường dân tộc: được thể hiện qua tinh thần vượt khó khắc phục hậu quả chiến tranh, phục hồi kinh tế, giữ vững độc lập dân tộc trước những cuộc chiến tranh biên giới và tranh chấp chủ quyền trên bộ, trên biển... VN vẫn giữ được đường lối ngoại giao độc lập, không liên kết…

3.Tài năng quân sự, dũng cảm: thể hiện qua hai cuộc chiến tranh biên giới sau 1975 và trong công cuộc xây dựng quân đội chính quy, hiện đại, nâng cao sức chiến đấu của các quân binh chủng. Tinh thần dũng cảm thể hiện rất rõ trong sự kiện quân và dân cùng bảo vệ chủ quyền biển đảo trước những thủ đoạn khiêu khích và hành dộng tàn bạo của kẻ địch…

4.Lạc quan và hài hước: mặc dù đời sống người Việt còn nhiều khó khăn nhưng VN đứng hàng thứ hai thế giới về “chỉ số hạnh phúc, hài lòng” vì người Việt có tinh thần lạc quan chứ không phải do thu nhập cao. Tuy nhiên, lòng tin đang có những dấu hiệu suy giảm trong các tầng lớp nhân dân, nhất là nông dân, công nhân và trí thức.

5. Dung hợp các giá trị văn hóa: trong bối cảnh toàn cầu hóa, thế giới phẳng và hội nhập… Việt Nam đang trong quá trình tiếp thu, dung hợp những giá trị thời đại nhưng dường như thách thức đang lớn hơn cơ hội… vì lối sống tham lam, giả dối tồn tại trong “một bộ phận không nhỏ”. Lối sống thực dụng, hưởng thụ khá phổ biến trong giới trẻ.

6.  Khéo léo, năng động, sáng tạo: thể hiện rõ ở thời kỳ khủng hoảng kinh tế - xã hội và bị bao vây, cấm vận… người Việt Nam đã tận dụng tất cả các loại phế liệu để cải tiến, sửa chữa, phục hồi các loại máy móc, xe cộ… đó là những chiếc xe tải, xe khách từ chạy xăng chuyển sang chạy bằng than, những chiếc xe “công nông” đơn giản nhưng đa năng. Ngày nay còn xuất hiện rất nhiều những “kỹ sư không bằng cấp” nhưng đã tự chế tạo được nhiều loại máy nông nghiệp có hiệu quả kinh tế cao, tự làm những cây cầu treo dây văng, chế tạo được cả tàu ngầm, máy bay trực thăng bằng vật liệu sẵn có… Các mặt hàng thủ công, mỹ nghệ của Việt Nam cũng khá nổi tiếng trên thị trường thế giới. Tuy nhiên Việt Nam chưa có cơ chế khuyến khích sáng tạo – thậm chí còn gây khó khăn và chèn ép những sáng chế. Đồng thời, về giáo dục đào tạo vẫn lạc hậu, giáo điều, áp đặt – chưa có triết lý giáo dục về tư duy độc lập, sáng tạo.

7. Đoàn kết và tính thực tế: giá trị này vẫn thể hiện đối với những vấn đề bảo vệ chủ quyền đất nước, nhưng dường như đang suy giảm do tác động của nhiều yếu tố như: tính cạnh tranh gay gắt của kinh tế thị trường, sự tấn công mạnh mẽ của lối sống thực dụng, và nạn tham nhũng tạo ra những xung đột lợi ích giữa các nhóm xã hội – nông dân, công nhân và trí thức chân chính vẫn là những nhóm “yếu thế và thiệt thòi”.

Kết luận

Từ những nội dung nêu trên cần đặt câu hỏi: ngày nay nên tìm những giải pháp ngăn chặn những thách thức và đà suy giảm một số giá trị hay nên xây dựng những “tiêu chí” mới cho hệ giá trị Việt Nam?

-  Việc tìm giải pháp xây dựng hệ giá trị Việt Nam mới là bất khả thi vì nó không có cơ sở lý luận. Cụ thể là sự hình thành giá trị của một quốc gia tùy thuộc vào ba yếu tố cơ bản: năng lực kiến tạo, tính cách nhân văn và phải được thử thách trong quá trình lịch sử lâu dài. Do đó, không thể dùng ý chí để xây dựng trong vòng một vài thập niên, mà như Hồ Chí Minh đã nói: “Vì lợi ích trăm năm trồng người”.

-  Việc tìm giải pháp ngăn chặn những thách thức và biểu hiện suy giảm của các giá trị sẽ có tính hiện thực cao hơn vì giá trị có tính bền vững, kế thừa về bản chất, chỉ biến đổi hình thức biểu hiện nên có thể tác động ngăn chặn hoặc hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực để sự thay đổi hình thức không đến mức có thể làm thay đổi bản chất của những giá trị. Những giải pháp đó sẽ được nghiên cứu ở những đề tài khác.

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.