TS. Nguyễn Hữu Nguyên – Biển đảo Việt Nam ngày nay nhìn từ tương quan giữa lợi thế kinh tế và thách thức quốc phòng (liên hệ với Quảng Bình)

Bài viết phân tích một vấn đề là mối quan hệ biện chứng (tương quan) giữa lợi thế kinh tế biển đảo Việt Nam và những thách thức về quốc phòng để chứng minh cho giả thuyết khoa học: 


Việt Nam có bờ biển dài và nhiều đảo nhỏ nhưng là một quốc gia không lớn và chưa giàu mạnh nên trong bối cảnh thế giới ngày nay, những thách thức về quốc phòng từ biển có thể lớn hơn những lợi thế về kinh tế biển đảo-trên cơ sở đó tìm hiểu những yếu tố phát triển bền vững. 


  1. Nhận diện “văn hóa biển đảo Việt Nam”

Phần trình bày này không đi tìm nguồn gốc của khái niệm, cũng không nhằm tranh luận với các tác giả khác- mà chỉ là một cách tiếp cận khác để nhận diện “văn hóa biển đảo Việt Nam” -do đó cần phải có sự so sánh.

Ngày nay có nhiều cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau về khái niện “văn hóa biển đảo” nhưng bài này chỉ nêu một ví dụ là định nghĩa (đề xuất) của GS TSKH Trần Ngọc Thêm: “Văn hoá biển là hệ thống các giá trị do con người sáng tạo ra và tích lũy được trong quá trình tồn tại lấy biển làm nguồn sống chính”…và “một dân tộc có thể được coi là có văn hoá biển khi và chỉ khi văn hoá biển là một thành tố hữu cơ không thể thiếu của vốn văn hoá dân tộc.

Tác giả đưa ra nhận định “…có thể nói rằng trong lịch sử, Việt Nam đã từng có một giai đoạn (thời Đông Sơn và sau đó, rất có thể là đến hết thời chống Bắc thuộc) có văn hoá biển, thậm chí là một quốc gia (dân tộc) biển ở quy mô khu vực… Nhưng từ thế kỷ X trở lại đây thì Việt Nam chỉ có văn hoá sông nước và những yếu tố của văn hoá biển chứ không còn văn hoá biển như một bộ phận hữu cơ không thể thiếu trong đời sống văn hoá của dân tộc… mà chủ yếu cũng chỉ là văn hoá biển “cận duyên”… tuy sống cạnh biển và nhờ biển rất nhiều, nhưng không thoát khỏi tâm lý “sợ biển” của cả dân tộc.

Bài viết này xin đưa ra cách định nghĩa khác như sau: “Văn hóa biển” là những gì do con người tạo ra bao gồm cả vật chất và tinh thần có liên quan đến biển và cách ứng xử của con người với biển. Do đó, ở đâu có biển và có con người sinh sống chịu ảnh hưởng của biển thì ở đó có văn hóa biển. Tất nhiên tính chất và độ đậm nhạt khác nhau tùy thuộc vào điều kiện tự nhiên và yếu tố xã hội. (Nếu đảo nhỏ đến mức cuộc sống con người phải phụ thuộc đất liền thì đó là một thành tố của biển. Nếu đảo lớn đến mức con người tồn tại độc lập và không có biên giới trên bộ thì được gọi là lục địa như châu Úc, hoặc là “đảo quốc” như Singapore, Cuba, Nhật… Do đó khái niệm “văn hóa biển” đã bao hàm cả các đảo nhỏ).

Đây là hai cách nhận diện văn hóa biển VN khác nhau nên cần phân tích khách quan cơ sở lý luận và thực tiễn của mỗi cách:  

Dải đất dài và hẹp hình chữ S (Việt Nam) đã nằm trên bờ biển đông từ thưở khai thiên lập địa, khi có con người sinh sống và tiếp xúc với biển thì khi đó có văn hóa biển. Từ khi người Việt sinh sống tên dải đất này thì vùng biển Đông hầu như không thay đổi nhiều về địa lý, không thay đổi diện tích, không thêm các đảo lớn. Phần đất liền cũng vậy, không rộng hơn, không có thêm hệ thống sông ngòi lớn… Vì vậy hầu như không có yếu tố khách quan nào để từ thế kỷ thứ X- có thể làm cho “văn hóa biển” biến thành “văn hóa sông nước”. Về yếu tố chủ quan thì gần như ngược lại cư dân của vùng đất này ngày càng có khả năng tiến ra biển xa hơn để khai thác nguồn lợi biển, đồng thời khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo của quốc gia cũng ngày càng tăng.

Về tâm lý “sợ biển của cả dân tộc” thì nên hiểu một quy luật đơn giản là: khi con người mới thoát khỏi hang động để tiếp xúc với đồng bằng và biển cả là lúc con người còn rất yếu đuối trước sự dữ dội của biển cả (vì chưa có kinh nghiệm thích ứng và chưa có phương tiện đi biển) thì sự bỡ ngỡ và sợ hãi là lẽ tự nhiên của loài người nói chung. Nhưng quy luật tiến hóa đã làm cho loài người mạnh dần lên nhờ sự phát triển của tri thức và kinh nghiệm nên con người không những đã thắng được nỗi sợ hãi mà còn có khả năng chinh phục biển bằng những phương tiện ngày càng hiện đại. Tuy nhiên, ngay cả những quốc gia biển hung mạnh nhất ngày nay vẫn còn những nỗi sợ biển mang tên TiTaNic.

Nếu chỉ căn cứ vào một số câu ca dao tục ngữ hoặc truyền thuyết để suy ra nỗi “sợ biển của dân tộc” thì với những câu như: “…dưới sông sấu lội, trên rừng cọp um…; nhất phá sơn lâm, nhì đâm hà bá…; chim kêu vượn hú biết nhà má đâu…” phải chăng đó là “nỗi sợ rừng, sợ sông” của người dân Nam bộ? và phải chăng người dân miền Trung đến nay vẫn chưa thoát khỏi “sợ chuông nhà Hồ, sợ phá Tam giang…”? Thực tế đã chứng minh rằng: người Việt Nam có khả năng vượt qua nỗi sợ hãi ban đầu để thích nghi và chinh phục núi rừng và biển cả.

Những sự kiện nêu trên đã phản ánh một thực tế lịch sử: văn hóa biển Việt Nam là một dòng chảy liên tục. Trong đó khả năng thích nghi, chinh phục, khai thác và bảo vệ chủ quyền biển đảo ngày càng nâng cao.

2. Tương quan giữa lợi thế kinh tế biển và thách thức quốc phòng

Lợi thế kinh tế: Việt Nam có tiềm lực kinh tế biển rất lớn so với nhiều quốc gia khác và đó là “lợi thế kinh tế biển”. Những số liệu sau đây sẽ chứng minh điều đó:

Bờ biển Việt Nam dài 3.260 km-đứng thứ 27/157 nước có biển, tỷ lệ trung bình 100 km2 đất liền có 1km bờ biển, hiện có 28/63 tỉnh thành có biển, với gần ½ dân số sống ven biển. Diện tích mặt nước biển của Việt Nam rộng 1 triệu km2 gấp 3 lần đất liền, chiếm gần 30% diện tích biển Đông. Trong đó vùng đặc quyền kinh tế từ 200 đến 350 hải lý tính từ đường cơ sở. Trong vùng biển đó có khoảng 4.000 đảo lớn nhỏ và các bãi đá.

Về tài nguyên biển của Việt Nam rất lớn-nhưng bài viết này không liệt kê tất cả các loại mà chỉ nhìn tổng quan những loại có giá trị kinh tế lớn: Một là nguồn lợi hải sản với 2.040 loài cá. Trong đó, 110 loại có giá trị kinh tế cao. Hai là nguồn lợi khoảng sản chủ yếu là dầu khí với nhiều túi dầu có trữ lượng có thể khai thác công nghiệp. Ba là nguồn lợi về giao thông biển với vị trí nằm trên đường biển quốc tế từ Ấn độ dương sang Thái Bình dương, kết nối với các vùng kinh tế lớn Bắc Á, Đông Á, Đông Nam Á nên có thể khai thác dịch vụ. Bốn là nguồn lợi từ du lịch biển, đảo với những lợi thế đa dạng về cảnh quan, sinh thái, có thể khai thác du lịch nghỉ dưỡng, du lịch khám phá, mạo hiểm…

Các ngành kinh tế biển mà Việt Nam đang khai thác gồm:

-Đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản;

-Vận tải biển,

-Công nghiệp biển: đóng tàu,

-Khai thác muối cho công nghiệp,

-Du lịch biển đảo.

Trên đây là cái nhìn tổng quát về lợi thế kinh tế biển của Việt Nam. Tuy nhiên những lợi thế đó không thể tự động biến thành sức mạnh kinh tế cụ thể của đất nước mà còn phụ thuộc hàng loạt vấn đề khác như trình độ khoa học công nghệ, nguồn vốn đầu tư, hệ thống chính sách, tình hình quốc tế và khả năng bảo vệ chủ quyền biển đảo… Nhưng bài viết này chỉ đề cập một khía cạnh là thách thức quốc phòng.

-Thách thức quốc phòng: trong bối cảnh thế giới đa cực với những mối quan hệ địa chính trị đan xen nhau rất phức tạp, ở biển đông đang có sự tranh giành ảnh hưởng của các cường cuốc, đồng thời có sự tranh chấp chủ quyền biển đảo giữa nhiều nước trong vùng nên vấn đề đặt ra là: các lợi thế về kinh tế biển chỉ có thể khai thác và phát huy khi bảo vệ được vững chắc chủ quyền biển đảo của quốc gia và duy trì được trạng thái hòa bình trên biển đông.

Để làm được điều đó, Việt Nam không chỉ tiến hành đấu tranh chính trị, ngoại giao rất phức tạp mà thách thức lớn hơn rất nhiều là phải đầu tư cho quốc phòng đủ sức răn đe và sẵn sàng đánh bại những hành động xâm lược bằng quân sự sức mạnh quân sự bảo đảm cho bảo vệ chủ quyền và tiếng nói ngoại giao chứ không phải ngược lại.

Một điều rất dễ hiểu là vùng biển có chủ quyền càng rộng, càng nhiều đảo thì nguồn lợi kinh tế càng lớn nhưng cũng phải có càng nhiều nguồn lực để bảo vệ những hoạt động khai thác và có thể đánh bại được những hành động xâm lấn, tranh chấp.

Mặc dù bài viết này không thể đưa ra những số liệu tổng quát về ngân sách quốc phòng (thuộc về bí mật quân sự)-nhưng với một số dẫn chứng cụ thể về yêu cầu quốc phòng và mua sắm vũ khí, cũng có thể hình dung được quy mô đầu tư cho quốc phòng lớn như thế nào so với nguồn lợi kinh tế thu được từ biển.

Để có sức mạnh quân sự bảo vệ chủ quyền biển đảo, Việt Nam đã phải mua sắm các loại vũ khí hiện đại, sau đây là một số loại cụ thể:

- Phải có quân chủng hải quân, bố trí trên 5 vùng (tổng quân số khoảng 45.000 người, 127 tàu chiến, 6 tàu ngầm, 58 máy bay, theo Wikipedia)

- Tàu chiến hiện đại có giá khoảng 100 triệu USD/một chiếc, mỗi năm tốn 10 triệu USD/một chiếc để vận hành, bảo dưỡng-theo báo điện tử Đâtviệt)

- Tàu ngầm lớp kilo có giá mỗi chiếc từ 200 đến 350 triệu USD, chi phí vận nành, bảo dưỡng khoảng 20 triệu USD/1 năm/1 chiếc, báo điện tử Đất Việt)

- Máy bay SU 30 KM-giá mỗi chiếc trên dưới 30 triệu USD

- Tổ hợp tên lửa bảo vệ bờ biển-như hệ thống Bastion-giá rất cao.

- Các tổ hợp tên lửa, pháo phòng không hiện đại như S 300

- Các hệ thống ra da hiện đại kiểm soái biển  

Từ một số ví dụ nêu trên có thể thấy để bảo vệ chủ quyền biển đảo-buộc phải đầu tư một nguồn lực khổng lồ, chiếm một tỷ lệ đáng kể trong GDP của cả nước.

- Đánh giá tương quan lợi thế kinh tế và thách thức quốc phòng: Như trên đã trình bày, nhưng lợi thế kinh tế chưa được khai thác tốt do nhiều lý do. Trong khi đó đầu tư cho quốc phòng vô cùng lớn và buộc phải kịp thời trong tình hình mới. Tuy nhiên bài viết này chỉ có thể đưa ra phán đoán: những nguồn lợi thu được từ biển mà chủ yếu từ dầu khí và hải sản-có thể chưa lớn hơn phần đầu tư cho quốc phòng.(chỉ có chính phủ mới có số liệu cụ thể để so sánh).  

3. Những điều kiện để văn hóa biển đảo trở thành nguồn lực phát triển bền vững. (trường hợp Quảng Bình)

Như phần trên đã trình bày, để văn hóa biển đảo Việt Nam trở thành nguồn lực phát triển bền vững thì điều kiện tiên quyết là phải giữ vững được chủ quyền để khai thác. Tuy nhiên, ở phần trên, bài viết đã trình bầy về thách thức quốc phòng nên ở phần này sẽ đi sâu phân tích những điều kiện để khai thác một cách bền vững những nguồn lợi kinh tế từ biển đảo nhưng không phải là kinh tế kỹ thuật mà nhìn từ khía cạnh kinh tế văn hóa. Do đó sẽ chủ yếu đề cập đến lĩnh vực kinh tế gắn với văn hóa là ngành du lịch.

Đánh giá thực trạng khai thác du lịch biển đảo của Việt Nam và Quảng Bình:

Nhận định về đặc điểm và tiềm năng du lịch biển đảo ở khu vực duyên hải miền trung-Phó tổng cục trưởng du lịch Việt Nam - ông Hà Văn Siêu cho rằng: nét tương đồng và đặc trưng của duyên hải miền trung là du lịch biển đảo gắn với di sản văn hóa đặc sắc và hệ sinh thái đa dạng…

Đối tượng khách du lịch được phân chia thành hai phần: du khách nước ngoài và du khách nội địa. Trong đó du khách nước ngoài đem đến lợi nhuận và ngoại tệ nhiều hơn nên cảm nhận của họ về du lịch biển đảo Việt Nam là rất quan trọng.

Có rất nhiều ý kiến khen ngợi về cảnh quan và sinh thái biển đảo VN nhưng có một nhận xét tổng quát rất đáng chú ý là: du lịch biển đảo Việt Nam “mầu mỡ và hoang hóa”. Nhận xét ấy được thể hiện qua những số liệu và thực tế sau đây:

Các nhà nghiên cứu và tổng cục du lịch Việt Nam đền nhận định: tỷ lệ khách du lịch quốc tế trở lại VN thấp hơn nhiều nước trong khu vực-do “phát triển nóng” thiếu bài bản, căn cơ, chủ yếu là khai thác những gì sẵn có. Tổng cục du lịch nhận xét tình hình chung về du lịch Việt Nam những năm qua có những đặc điểm như sau:

- Các doang nhiệp du lịch Việt Nam chưa biết xây dựng thương hiệu.

- Các địa phương thường “thả nổi” cho các doanh nghiệp du lịch tự khai thác nên dẫn đến tình trạng du lịch trong vùng thiếu ý tưởng chung, trùng lắp, nhàm chán.

-Tính liên kết rất hạn chế nên chưa tạo ra mô hình du lịch đặc trưng

* Những số liệu và tình hình nêu trên đã phản ánh một thực tế: ngành du lịch Việt Nam chưa khai thác tốt những lợi thế về cảnh quan của biển đảo.

Riêng Quảng Bình có địa thế khá đặc biệt: nằm trong vùng đất hẹp nhất của Việt Nam, có bờ biển dài 116 km, tổng diện tích 8.065 km2. Trong đó 85% là núi, rừng, gò, đồi. 11% là đồng bằng, còn lại 4% là cồn cát ven biển. Đó là dải đất khá khô cằn, không có điều kiện phát triển nông nghiệp. Nhưng bù lại, Quảng Bình có lợi thế du lịch đặc biệt hơn các khu vực khác vì có nhiều sản phẩm đa dạng, tương đối gần nhau nên sự kết hợp khá thuận lợi. Cụ thể là:

- Có nhiều bãi tắm đẹp (7 bãi đẹp nhất: Hòn Lu, Quảng Phú, Vũng Chùa, Đảo Yến Đá Nhảy, Nhật Lệ, Bảo Ninh).

- Có nhiều đảo đẹp (5 đảo đẹp nhất: Hòn La, Hòn Gió, Hòn Nồm, Hòn Cọ, Hòn Chùa).

- Có nhiều cửa sông (5 con sông chính: Roon,  Gianh, Son, Nhật Lệ, Kiên Giang). Có những con đèo cảnh quan đẹp (như đèo Mụ Dạ, Cổng Trời, Cha Lo).

- Có các hang động nổi tiếng thế giới như Phong Nha Kẻ Bàng, Sơn Đoòng…

Từ những lợi thế đó, Quảng Bình đã khai thác du lịch khá thành công: theo số liệu của ngành du lịch Quảng bình, số lượng khách du lịch đến tỉnh này chiếm 80% cả nước và doanh thu du lịch chiếm 70% của cả nước. Riêng trong năm 2014 đạt 2.743.369 du khách, tăng 99, 76% so với 2013. Trong đó có 43.253 du khách nước ngoài, tăng 26,39% so với năm trước. Doanh thu du lịch năm 2014 đạt 2.750 tỷ đồng, tăng 130%.

Về phương hướng và giải pháp phát triển bền vững du lịch biển đảo của Quảng Bình đã được chính quyền và các nhà nghiên cứu của tỉnh xác định khá đầy đủ, cụ thể là: xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của Quảng Bình, đồng thời nêu 7 giải pháp có thể vận dụng trước mắt và lâu dài-bao gồm các lĩnh vực: tăng cường công tác quy hoạch tổng thể và chi tiết phù hợp với nhau/phát triển, đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu ngày càng cao/đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ quản lý tiên tiến/chú trọng gìn giữ, bảo vệ tài nguyên du lịch bằng cách tăng cường thanh tra, kiểm tra môi trường và tuyên truyền giáo dục/đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng bằng cách huy động nhiều nguồn vốn/có cơ chế chính sách thích hợp thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào du lịch Quảng Bình/tăng cường xúc tiến quảng bá du lịch ra nước ngoài (tác giả Trần Quốc Lợi-cục thống kê Quảng Bình).

Bảy giải pháp nêu trên đều là những yếu tố cần thiết để phát triển bền vững ngành du lịch chung và du lịch biển đảo của Quảng Bình. Tuy nhiên những đề xuất đó mới dừng lại ở những từ ngữ: tăng cường, đẩy mạnh, chú trọng, phát triển… đối với những nhiệm vụ thường xuyên của ngành du lịch, chưa đề xuất những ý tưởng mới.

Từ những đặc diểm về tiềm năng du lịch của Quảng Bình, bài viết này đề xuất một số ý tưởng để tham khảo:

- Có thể nghiên cứu mô hình quy hoạch từng vùng du lịch hỗn hợp theo chiều cắt ngang không gian-nhẳm tạo ra những vùng có sắc thái kết hợp khác nhau… Có thể là vùng hang động kết hợp tắm biển nghỉ dưỡng. Có thể là vùng di sản văn hóa kết hợp với khám phá các đảo, có thể là vùng lặn biển, câu cá với cảnh quan, núi đồi… Không nên quy hoạch vùng du lịch theo chiều dài lãnh thổ để tránh trùng lặp và nhàm chán.

- Có thể nghiên cứu mô hình kết hợp du lịch nghỉ dưỡng với du lịch trải nghiệm(du khách sống chung với ngư dân hoặc với dân làng miền núi…). Du lịch trải nghiệm đang là xu hướng thu hút du khách

- Có thể nghiên cứu nhiều cách quảng bá du lịch, trong đó có cách xây dựng các video clip có kịch bản, có du khách và cảnh quan và phát hành rộng rãi các CD cho du khách mang về.

  TP HCM ngày 20-5-2015

TS.Nguyễn Hữu Nguyên

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.