Từ tín ngưỡng Hùng Vương đến sức mạnh đại đoàn kết thời đại Hồ Chí Minh

Trung tâm CSS xin giới thiệu bài viết của TS. Nguyễn Hữu Nguyên (Cộng tác viên Trung tâm) về tín ngưỡng Hùng Vương và sự ảnh hưởng của nó đến sức mạnh đại đoàn kết thời đại Hồ Chí Minh 

Bài viết được đăng trong kỷ yếu hội thảo khoa học "Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Việt Nam” do Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh mới đây đã phối hợp với Thành ủy TP HCM tổ chức 27/12/ 2015
 

TỪ TÍN NGƯỠNG HÙNG VƯƠNG

ĐẾN SỨC MẠNH ĐẠI ĐOÀN KẾT THỜI ĐẠI HỒ CHÍ MINH

-------

Đặt vấn đề:

          Ngày nay, nguồn sử liệu văn bản và chính xác về thời Hùng Vương còn lại rất ít, phần lớn là truyền thuyết và huyền thoại nhưng vì sao từ ngàn năm trước, người Việt đã thờ cúng Hùng Vương như một tín ngưỡng lớn nhất của cả dân tộc và truyền thống ấy tồn tại cho đến ngày nay ? Để lý giải vấn đề này cần tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa truyền thuyết, huyền thoại với lịch sử, đồng thời nhìn lại suốt chiều dài lịch sử VN để thấy tín ngưỡng Hùng Vương có vai trò, vị trí thế nào trong sức mạnh dựng nước và giữ nước từ thời Hùng vương cho đến thời đại Hồ chí Minh. Đó là nội dung mà bài viết này sẽ trình bày.

  • 1- Tìm hiểu mối quan hệ biện chứng giữa truyền thuyết, huyền thoại Hùng Vương với lịch sử cổ đại Việt Nam.

    Có lẽ không ai biết chính xác, từ bao giờ ở Việt Nam có câu ca dao “dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ Tổ mùng mười tháng ba”. Đó là câu ca mà nhiều người ghi nhớ hơn bất kỳ câu ca nào khác.

    Nếu văn hóa phương tây coi trọng “sinh nhật”-thì văn hóa phương đông lại coi trọng “ngày giỗ”- với ý nghĩa là tỏ lòng biết ơn công lao, thành quả của tiền nhân đã để lại cho con cháu đời sau.

    Thờ cúng Ông Bà là tín ngưỡng của từng gia đình, nhưng thờ cúng Hùng Vương là tín ngưỡng của cả một dân tộc. Tín ngưỡng là niềm tin không chỉ tạo ra sức mạnh tinh thần mà còn tạo ra động lực và sức mạnh hành động của từng người và quy tụ nhiều người tạo thành sức mạnh tổng hợp rất to lớn. Người Việt xưa đã có câu: “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Phải chăng tín ngưỡng Hùng Vương chính là yếu tố căn bản làm cho “nhiều cây chụm lại” tạo ra sức mạnh Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và chống ngoại xâm? Để lý giải giả thuyết này trước hết cần nhận thức một số vấn đề có tính lý luận về mối quan hệ biện chứng giữa truyền thuyết, huyền thoại và thực tế lịch sử:

    Ngày nay, sử liệu chính xác nhất về thời Hùng Vương chỉ là một số niên đại còn lại hầu hết là các truyền thuyết và huyền thoại -ngay cả danh xưng “Hùng Vương” cũng còn có những cách lý giải khác nhau.

    Theo truyền thuyết thì cội nguồn của Hùng Vương là thời Hồng Bàng- bắt đầu từ năm 2879 TCN, cuộc hôn nhân giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ-là giòng giõi Rồng,Tiên- sinh ra một trăm trướng, nở ra một trăm người con- sau đó một nửa theo mẹ lên núi, một nửa theo cha ra biển-người con cả được phong làm vua-gọi là Hùng Vương, lập ra nước Văn Lang. Có 18 đời vua Hùng, tồn tại đến năm 258 TCN-vì thế người Việt tự coi mình là “con Rồng cháu Tiên”.

    Nếu theo cách nhìn của khoa học duy vật thuần túy thì không thể coi những câu chuyện của truyền thuyết và huyền thoại là “chính sử” vì không thể có chuyện người đẻ ra trứng. Tuy nhiên con người lại có khả năng cảm nhận trừu tượng từ tâm linh nên tất cả truyền thuyết và huyền thoại không hoàn toàn “hoang đường” -mà là sự phản ánh gián tiếp những gì mà con người còn lưu giữ trong ký ức-dù là rất mờ nhạt. Có lẽ truyền thuyết và huyền thoại giống như những gì hiện lên trong giấc mơ-tuy không phải là sự thật nhưng đều có mối liên hệ với những gì mà con người đã chứng kiến, đã trải qua, thậm chí mới chỉ xuất hiện trong suy nghĩ.

     Truyền thuyết và huyền thoại lịch sử trước hết là sản phẩm của trí tưởng tượng và hư cấu rất phong phú của con người nhưng không hoàn toàn giống như truyện cổ tích- các nhân vật và sự kiện không có thật-mục đích chỉ là phản ánh những đức tính cần khen ngợi hoặc cần chê trách (như chuyện Tấm Cám, Lọ lem, Bạch Tuyết…). Cũng không giống với chuyện liêu trai chí dị mà gần hơn với thể loại thần thoại-kể về các vị thần thánh linh thiêng. Cụ thể như truyền thuyết và huyền thoại về “con Rồng cháu Tiên” chỉ là cách dùng các biểu tượng của quyền uy và cao quý để khẳng định nguồn gốc thượng đẳng của người Việt. Truyền thuyết về “trăm trứng, trăm con” chắc hẳn có liên quan đến thực tế có rất nhiều thị tộc bộ lạc  thời Văn Lang cùng chung sống trên một vùng lãnh thổ-gọi là “Bách Việt”. Về chuyện 50 người con theo mẹ lên rừng, 50 người con theo cha xuống biển- là huyền thoại hóa quá trình mở mang không gian sống về hướng đông và hướng tây của nhóm Bách Việt. Truyền thuyết về các đời vua Hùng có thể không chính xác về số lượng 18 đời-mà đó chỉ là con số biểu tượng của số nhiều (như 9 tầng mây, 18 thôn vườn trầu, 36 phố phường… đều là bội số của số 9). Cũng như sự tích Thánh Gióng được gọi là truyện cổ tích-tuy thực tế không có Thánh Gióng, không có ngựa sắt nhưng chống gặc Ân xâm lược là có thật, đồng thời có nhiều cuộc khởi nghĩa trong ngàn năm bắc thuộc là có thật-Thánh Gióng chỉ là biểu tượng để nhân dân nhớ ơn những người anh hùng áo vải đã đứng lên cứu dân cứu nước nhưng không màng danh lợi.

    Từ đó có thể suy ra: truyền thuyết và huyền thoại lịch sử tuy không phải là những sự kiện cụ thể nhưng nó chứa đựng những “giá trị phi vật thể của lịch sử” - nói cách khác, nếu ví lịch sử cụ thể như một loài cây có hoa có trái- thì truyền thuyết và huyền thoại như mùi hương của loài hoa đó- tuy không nhìn thấy những cánh hoa nhưng từ mùi hương có thể nhận ra loài cây đó. Truyền thuyết Hùng Vương cũng như vậy-đó chính là những giá trị phi vật thể của lịch sử cổ đại Việt Nam.   

  • 2-Khi truyền thuyết trở thành tín ngưỡng Hùng Vương-nâng tầm sức mạnh Việt Nam chống ngoại xâm.

    Theo sử liệu thì thời Hùng Vương kết thúc từ năm 258 TCN, đến 207 TCN mở đầu cho thời kỳ “ngàn năm Bắc thuộc”-các tập đoàn phong kiến hùng mạnh nhất của Trung Hoa thay nhau cai trị, chúng cướp đoạt tài nguyên, sản vật, bóc lột sức lao động của người dân và thâm độc hơn là dùng mọi thủ đoạn xóa bỏ văn hóa Lạc Việt. Với thời gian đô hộ kéo dài hơn một ngàn năm- và với tương quan lực lượng vật chất quá chênh lệch-tưởng chừng như những nhà nước sơ khai thời Hùng Vương như Văn Lang, Âu Lạc sẽ không đủ sức cưỡng lại sự đồng hóa cả về lãnh thổ và văn hóa. Nhưng sức kháng cự của người Việt cả về vật chất và văn hóa ngày càng mạnh dần để cuối cùng trở lại thành một quốc gia độc lập. Vậy các hậu duệ của Hùng Vương đã tồn tại và phát triển như thế nào bên cạnh thế lực phong kiến lớn mạnh ở phương bắc ?

    Sức sống mãnh liệt của văn hóa Hùng Vương trong ngàn năm bắc thuộc

     Thời kỳ bắc thuộc lần thứ nhất(111 TCN-220):  Âu Lạc bị xâm lược nhưng di sản văn hóa đồ đồng của thời Văn Lang-Âu Lạc-những chiếc trống đồng Đông Sơn-như bộ lịch sử đầu tiên của dân tộc được đúc bằng đồng- đã khảng định nền văn minh thời Hùng Vương có sức sống mãnh liệt, đủ sức tồn tại trước sự đồng hóa tàn bạo của ngoại bang. Sức sống văn hóa ấy là nguồn sức mạnh làm bùng nổ cuộc khởi nghĩa lớn đầu tiên của Hai Bà Trưng( năm 40 đến 43) đánh đuổi thái thú phương bắc phải chạy về Quảng Đông.

    Bắc thuộc lần thứ hai (từ năm 43 đến năm 543): Phong kiến Đông Hán đô hộ nhưng không áp dụng được bộ luật lệ của phương bắc và phải đối phó với nhiều cuộc khởi nghĩa. Năm 190-193 những cuộc khởi nghĩa đã tạo ra nước Lâm Ấp và Chiêm Thành. Năm 248 lại nổ ra khởi nghĩa của Bà Triệu chống lại nhà Ngô. Năm 544 Lý Bí khởi nghĩa xưng vương Lý Nam Đế lập nước Vạn Xuân. Năm 557 Triệu Quang Phục xưng hiệu Triệu Việt Vương…nhưng đến năm 602 nước Vạn Xuân lại mất nền độc lập.

    Bắc thuộc lần thứ ba(từ 605 đến 938): nhà Tùy và nhà Đường đô hộ Lạc Việt. Năm 722 Mai Thúc Loan khởi nghĩa, năm 766 Phùng Hưng nổi dậy, năm 938 Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán ở trận Bạch Đằng-giành độc lập-xưng vương và đóng đô ở Hoa Lư-kết thúc ngàn năm bắc thuộc.

    Nhìn lại cả quá trình hơn ngàn năm ấy có thể nhận thấy về số lượng, quy mô và sức mạnh của các cuộc khởi nghĩa phát triển theo chiều hướng tăng dần- mặc dù các thế lực ngoại xâm cũng ngày càng lớn mạnh và thâm độc hơn. Để lý giải chiều hướng này có lẽ không thể tìm ra nhân tố nào lớn hơn và thuyết phục hơn là: sức sống của văn hóa thời Hùng Vương như dòng chảy không ngừng suốt chiều dài lịch sử ngàn năm bắc thuộc. Nền văn hóa ấy được nhận biết từ những di chỉ khảo cổ thời đồ đồng ở Đông Sơn-là trống đồng Ngọc Lũ, trống đồng Đông Sơn và nhiều di vật bằng đồng khác.

    Xây dựng đền thờ Hùng Vương- hào khí dâng cao giữ nền độc lập.

              Sau khi Ngô Quyền mất, đất nước lâm vào cảnh cát cứ của 12 xứ quân và Đinh Bộ Lĩnh là người có công thống nhất quốc gia, lên ngôi Đinh Tiên Hoàng năm 968. Đây là vị Hoàng đế đầu tiên của Việt Nam sau ngàn năm bắc thuộc-đồng thời cũng là triều đại phong kiến đầu tiên đặt nền móng cho việc xây dựng đền thờ các vua Hùng ở núi Nghĩa Lĩnh(Phú Thọ ngày Nay). Sự kiện đó chứng tỏ những truyền thuyết về các Vua Hùng, về con Rồng cháu Tiên không những vẫn tồn tại mà ngày càng ngấm sâu vào tâm khảm của các thế hệ cư dân Lạc Việt và truyền thuyết đã biến thành tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của cả một dân tộc. Tín ngưỡng ấy đã thể hiện sức mạnh trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của các triều đại phong kiến Việt Nam mà lịch sử còn ghi lại.

               Cuộc đọ sức lần thứ nhất: Đại Cồ Việt chống Tống:  cuộc chiến tranh ấy đã diễn ra chỉ trong 4 tháng của đầu năm 981 và quân Tống đã bị  đánh bại hoàn toàn. Cũng trong thời kỳ này đã xuất hiện “bài thơ thần” -được coi là “tuyên ngôn độc lập” đầu tiên của Việt Nam. Hai câu đầu đã khẳng định ý chí độc lập và vị thế ngang bằng với phương bắc: “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư-Tiệt nhiên định phận tại Thiên thư”. Hai câu sau là lời cảnh cáo đanh thép đối với kẻ thù xâm lược: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm-Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”. Mặc dù đó là bài thơ khuyết danh và không biết đã ra đời trước hay sau khi đánh bại quân Tống-nhưng bất kể là thế nào thì đó cũng là sự phản ánh thực tế lịch sử, đồng thời phản ánh vị thế mới và sức mạnh mới của Đại Việt. Chiến thắng đó diễn ra sau khi Đinh Tiên Hoàng đã đặt nền móng cho việc xây dựng đền thờ Quốc Tổ nên về tâm linh, người Việt hoàn toàn có quyền tin rằng Hùng Vương vẫn luôn phù hộ cho con cháu giữ vững nền độc lập.

              Cuộc đọ sức lần thứ hai-đầu thế kỷ X- nhà Lý chống quân Tống xâm lược. Lần này Đại Việt không chờ kẻ thù động binh mà Lý Thường Kiệt đã đem quân đánh phủ đầu ngay trên đất địch khi chúng còn đang chuẩn bị.

              Cuộc đọ sức lần thư ba diễn ra vào thế kỷ XIII: kẻ thù của Đại Việt thời đó là quân Nguyên Mông hùng mạnh nhất thế giới -vó ngựa của Thành Cát Tư Hãn đã dày xéo khắp từ Âu sang Á- Thế nhưng quân dân nhà Trần do Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn lãnh đạo đã ba lần đánh đuổi quân xâm lược ra khỏi bờ cõi bằng chiến lược “trăm họ đánh giặc”. Có lẽ từ xa xưa, theo cách hiểu của người Việt  “trăm họ” chính là dân tộc- theo truyền thuyết “trăm trứng, trăm con”. Sức mạnh thời Trần là “hào khí Đông A” được hun đúc từ hàng ngàn năm lịch sử.

              Cuộc đọ sức lần thứ tư diễn ra vào thế kỷ XV-nhà Lê chống quân Minh xâm lược. Với chiến lược “công tâm”(tấn công vào lòng người) Nguyễn Trãi và Lê Lợi đã lãnh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ, buộc 10 vạn quân Minh phải đầu hàng và chúng được toàn mạng trở về. Trong “bình Ngô đại cáo” Nguyễn Trãi đã nhắc lại cội nguồn và khẳng định nền độc lập tự chủ của dân tộc: …Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu, nước non bờ cõi đã chia, ,phong tục bắc-nam cũng khác, từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập, cùng Hán Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương…”. Có lẽ chính từ hào khí ấy mà đến thời hậu Lê, công cuộc xây dựng đền thờ quốc tổ trên núi Nghĩa Lĩnh đã hoàn thành và tồn tại đến ngày nay.

              Cuộc đọ sức thứ năm-vào thế kỷ XVIII- Người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ  lên ngôi hoàng đế Quang Trung, vào nam diệt 5 vạn quân Xiêm, ra bắc phá 29 vạn quân Thanh, kết thúc thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh, đặt nền móng cho thống nhất đất nước. Sức mạnh và ý chí độc lập của Đại Việt không chỉ từ những đòn quân sự thần tốc mà còn toát lên từ những vần thơ hào sảng: “Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng, đánh cho nó chích luân bất phản, phiến giáp bất hoàn, đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”.

              Nhà Nguyễn đã có công lao rất lớn là mở mang bờ cõi về phương nam, đồng thời kế tục thành quả của Quang Trung thống nhất giang sơn nhưng rồi lại bị thực dân Pháp xâm lược, đất nước lại bị đô hộ gần 80 năm.

              Nhìn lại cả quá trình lịch sử chống ngoại xâm thời phong kiến của VN-ứng với quá trình phát triển tín ngưỡng Hùng Vương-từ khi đặt nền móng đến khi hòan thành và quá trình tồn tại của đền thở quốc tổ vua Hùng -có thể nhận thấy một đặc điểm nổi bật: cứ mỗi lần bị phương bắc xâm lược, Đại Việt lại vùng lên với một sức mạnh to lớn hơn và đánh bại kẻ thù lớn mạnh hơn để giành lại độc lập. Đó là những cuộc chiến tranh thực sự với tư cách là một quốc gia độc lập- không còn là những cuộc khởi nghĩa như thời ngàn năm bắc thuộc. Phải chăng hào khí Đại Việt được khởi nguồn từ sự linh thiêng của đền thờ Quốc Tổ ?

  • 3- Tín ngưỡng Hùng Vương và tư tưởng Hồ Chí Minh- phép nhân sức mạnh của khối đoàn kết toàn dân.

Ngay từ đầu năm 1942-còn trong thời kỳ vận động cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã viết trên báo Việt Nam độc lập (số 117-ngày 1-2-1942): Dân ta phải viết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam. Dân ta là con Rồng cháu Tiên…Sử ta dạy cho ta bài học này: lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập tự do. Trái lại lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Truyền thống và bài học đó là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam. Năm 1945 cách mạng tháng 8 thành công, nước VNDCCH ra đời nhưng ngay lập tức phải tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai. Sau 9 năm kháng chiến quân và dân VN đánh bại thực dân Pháp ở trận Điện Biên Phủ, giành độc lập một nửa đất nước. Tháng 9-1954, trên đường từ chiến khu về Hà Nội, Bác Hồ đã đến thăm đền thờ Hùng Vương và ngay tại sân đền Giếng, Bác Hồ đã nói chuyện với hàng trăm cán bộ chiến sĩ sư đoàn Quân Tiên Phong-một đơn vị mới chiến thắng Điện Biên Phủ trở về. Trước đoàn quân còn hừng hực khí thế chiến thắng, Bác Hồ đã nói: “Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”. Câu nói ấy trong hoàn cảnh “đường giải phóng mới đi một nửa, nửa mình còn trong lửa nước sôi”- có ý nghĩa rất sâu sắc: Bác Hồ muốn nói với chiến sĩ đồng bào về trách nhiệm giữ nước của tổ tiên còn rất nặng nề, kẻ thù còn ở miền Nam.

Hồ Chí Minh là người đã đi khắp năm châu bốn biển, đã tiếp xúc với nhiều nền văn minh kim cổ nhưng ngay trước cách mạng tháng 8 và sau khi  giành lại độc lập cho một nửa đất nước-Người đã nói về cội nguồn “con Rồng, cháu Tiên” và “các vua Hùng đã có công dựng nước”-điều đó chứng tỏ tín ngưỡng Hùng Vương đã khơi dậy lòng tự hào dân tộc và có vị trí rất quan trọng đối với việc tập hợp quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân trong kháng chiến chống thực dân. Quan trọng hơn là những giá trị truyền thống ấy còn được vận dụng và nâng lên tầm cao mới trong đường lối cách mạng và chỉ đạo kháng chiến của VN. Đó là đường lối chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, trường kỳ kháng chiến, xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân, lấy ít đánh nhiều, lấy yếu đánh mạnh, lấy nhân nghĩa thắng hung tàn, lấy trí nhân thay cường bạo…tất cả đều được kết tinh từ trí tuệ và lòng yêu nước trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc VN, không hề có yếu tố nước ngoài. Đường lối chiến lược ấy được phát huy cao độ, tạo ra sức mạnh phi thường-đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược của thế lực đế quốc mạnh nhất thế giới là Hoa Kỳ, thu non sông về một mối.

***

          Có thể nói, những chiến công hiển hách trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đều có yếu tố tín ngưỡng Hùng Vương-đó là lòng tự hào và tinh thần đoàn kết vì có cùng giòng giống “con Rồng, cháu Tiên”, vì sự biết ơn công lao dựng nước của “Tổ Phụ”. Tuy nhiên thực tế lịch sử thời phong kiến cũng để lại cho đời sau những bài học xương máu: cứ sau những chiến công oanh liệt lại là thời kỳ suy thoái và lại bị xâm lăng. Điều đó lặp lại nhiều lần như những chu kỳ định mệnh. Đó là bài học mà thế hệ ngày nay cần phải nhớ và quyết không để nó lặp lại. Bí quyết để xóa bỏ chu đó là: trung thành với tư tưởng và đạo đức Hồ Chí Minh, đồng thời phải kiên quyết loại bỏ những kẻ cơ hội, tham nhũng ra khỏi bộ máy của Đảng và nhà nước-tức là loại bỏ nguy cơ do “một bộ phận không nhỏ” đã thoái hóa, biến chất- có thể “thách thức sự lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ”-như NQTW 4 đã nêu. Bí quyết đoàn kết và kỷ cương còn có thể tìm thấy trong truyền thuyết dân gian về vua Hùng-chuyện kể rằng: lên đến đền Thượng, nhìn về bốn phía sẽ thấy rất nhiều quả đồi-giống như hàng trăm con voi quay đầu về núi Nghĩa Lĩnh-nhưng ở hướng bắc, có một quả đồi giống như con voi quay đầu về hướng giặc- và  mỗi khi trời mưa to người ta lại thấy một dòng nước đỏ như máu từ trên lưng con voi ấy chảy xuống…người dân bảo rằng đó là con voi “phản đàn” nên vua Hùng chém một nhát trừng phạt và vết thương ấy đến ngày nay vẫn chảy máu mỗi khi trời mưa lớn…Truyền thuyết dân gian ấy hàm chứa những ý nghĩa rất sâu xa: tuy số lượng “phản đàn” rất ít nhưng nếu không trừng phạt kịp thời chúng sẽ trở thành “một bộ phận không nhỏ”…và câu chuyện còn là lời cảnh cáo đối với những kẻ phản dân, hại nước-đồng thời là lời răn cho những người mà nhân dân giao cho trọng trách giữ gìn kỷ cương phép nước.

***

Tín ngưỡng Hùng Vương rất linh thiêng đối với người Việt Nam và phản ánh bản sắc văn hóa: “uống nước nhớ nguồn”. Thờ cúng “quốc tổ Hùng Vương” đã vượt lên trên những tín ngưỡng thông thường, trở thành nhu cầu tâm linh và giá trị văn hóa độc đáo của một dân tộc anh hùng đã kiên cường tranh đấu, hy sinh để bảo vệ độc lập dân tộc. Dân tộc ấy nhỏ bé nhưng có sức mạnh đoàn kết đã đánh bại tất cả các thế lực xâm lăng lớn nhất từng thời đại. Chính vì thế mà tín ngưỡng Hùng Vương hoàn toàn xứng đáng là “di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”

TP HCM ngày  8-12 -  2015


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.