TS. Nguyễn Hữu Nguyên – Nguồn lực du lịch của ĐBSCL và khả năng hợp tác phát triển với tiểu vùng sông MEKONG

NGUỒN LỰC DU LỊCH CỦA ĐBSCL VÀ KHẢ NĂNG HỢP TÁC PHÁT TRIỂN

VỚI TIỂU VÙNG SÔNG MEKONG

TS. Nguyễn Hữu Nguyên

 

Sông Mê kông có chiều dài gần 5 ngàn km, bắt nguồn từ vùng núi Tây Tạng, chảy qua 6 quốc gia, đổ ra biển ở VN. Một “ Uỷ ban sông MeKong” đã được thành lập (không có TQ) và đề ra 9 lĩnh vực hợp tác. Cuộc hội thảo này chỉ bàn về du lịch nên việc xác định nguồn lực du lịch của sông MeKong là cần thiết nhưng quan trọng hơn là cần đánh giá khách quan và cụ thể khả năng liên kết phát triển du lịch của các quốc gia trong tiểu vùng. Từ cách đặt vấn đề đó bài viết này trình bày nguồn lực thực tế về du lịch ở ĐBSCL trên cơ sở đó đánh giá khả năng hợp tác phát triển lịch với các quốc gia trong  tiểu vùng.

1. Tổng quan nguồn lực du lịch của sông MeKong

Đánh giá “nguồn lực du lịch” của cả dòng Mekong dựa trên bốn yếu tố cơ bản: giá trị du lịch, khả năng tiếp cận, tính hấp dẫn, cơ sở vật chất.  

 - Một là về các giá trị du lịch: dòng MeKong trải dài qua  6 vùng văn hóa khác nhau (Tây Tạng huyền bí, Myanmar cổ kính, Thái, Lào là đất Phật, Campuchia, Việt Nam là vùng nông nghiệp).Trong mỗi vùng lại có các sắc thái văn hóa riêng của hàng chục tộc người cư trú theo lưu vực sông (người San, Yoang, Yung, Nòi, Lự, Karen, Thái, Sán, Lào, Hoa, Khmer, Chăm, Việt…). Mỗi tộc người có phong tục tập quán, tín ngưỡng, chùa chiền, đền thờ rất rất độc đáo. Về giá trị cảnh quan, sinh thái cũng rất đặc biệt: thượng nguồn rất hùng vĩ, nhiều thác nước cao giữa núi non, rừng rậm, còn  hệ sinh thái tự nhiên, trong lành. Vùng trung và hạ du chia thành nhiều dòng chảy hiền hòa cùng những hồ nước lớn nằm giữa những cánh đồng bát ngát. Tóm lại giá trị du lịch của MeKong rất lớn nhưng còn ở dạng “tiềm năng”-chưa khai thác nhiều.

- Hai là về khả năng tiếp cận bằng các phương tiện: về đường bộ-chủ yếu là các tuyến đường ngang dẫn đến từng địa điểm du lịch, không có tuyến đường chạy dọc theo hai bờ tả ngạn và hữu ngạn. Đặc điểm này hạn chế rất nhiều khả năng liên kết. Về đường thủy:  chỉ có khoảng 1/3 chiều dài thuộc vùng hạ du và một phần trung du có thể lưu thông tàu lớn, còn lại là rất nhiều thác cao hàng chục mét và 19 vị trí có thể sẽ xây đập nước thủy điện (gồm 2 con đập đã  hoàn thành, 3 đập đang xây dựng  còn lại đang trong giai đoạn ý tưởng hoặc thiết kế). Tóm lại là không thể tổ chức các tour du lịch đường sông liên vùng. Về đường không: chưa có những sân bay lớn ở gần lưu vực Mekhong.

- Ba là khả năng hấp dẫn khách du lịch: khá đa dạng nhưng sẽ nghiêng về du lịch cảnh quan, sinh thái, tâm linh và tín ngưởng Phật giáo vào mùa khô.

- Bốn là cơ sở vật chất và chất lượng dịch vụ: nhìn chung các quốc gia chưa đầu tư nhiều do chưa có điều kiện kinh tế mạnh-nhất là đầu tư cho giao thông nối với các sân bay lớn sẽ tốn kém rất nhiều, thời gian hoàn vốn rất lâu.

Nhìn chung, tiềm năng du lịch của sông Mekong là rất lớn với những nét độc đáo và đa dạng về cảnh quan, sinh thái, văn hóa, tín ngưỡng…. Tuy nhiên nguồn lực để khai thác chưa mạnh nên phần lớn những sản phẩm du lịch vẫn do các quốc gia tự khai thác theo khả năng của riêng mình, chưa được khai thác ở quy mô toàn vùng. Nếu có sự liên kết chặt chẽ hơn về nguồn lực, kinh nghiệm thì ngành du lịch của tất cả các quốc gia trong vùng sẽ cùng được hưởng lợi nhiều hơn.

2. Nguồn lực du lịch của ĐBSCL

Về cảnh quan và hệ sinh thái: là một trong những vùng đồng bằng rộng lớn nhất thế giới (đứng thứ 3, sau đồng bằng Amazon của Braxin và đồng bằng sông Hằng của Ấn Độ). Đây còn là vùng sinh thái ngập nước và đa dạng sinh học rất hiếm của cả hành tinh. ĐBSCL là vùng hạ lưu của sông Mekong, có hai nhánh sông lớn chia thành 9 nhánh nhỏ đổ ra biển cùng với rất nhiều sông rạch và hệ thống kênh đào tạo thành một mạng lưới đường thủy chằng chịt và dày đặc. Trong mạng lưới đó lại xen kẽ một vài dãy núi và hang động(như Thất Sơn, núi Sam, núi đá vôi ở Kiên Giang). Ngoài ra còn có các hòn đảo như: Phú Quốc, Hòn Khoai, quần đảo Hải Tặc…có những khu rừng Tràm ngập mặn rộng lớn như U Minh Thượng, U Minh hạ, rừng Đước ở Cà Mau, Năm Căn…

 Về hạ tầng giao thông mà ngành du lịch có thể tận dụng gồm 40.932km đường bộ- có quốc lộ, đường vành đai, đường liên tỉnh, liên huyện… Đường thủy có bờ biển dài hơn 700km và hơn 28.000km đường sông vừa phục vụ kinh tế và du lịch.

Về văn hóa, xã hội: ĐBSCL có hơn 17 triệu người - là địa bàn đa dân tộc, đa tôn giáo, tín ngưỡng( Phật giáo, Thiên Chúa giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Bửu sơn Kỳ Hương, Tứ ân Hữu Nghĩa… thờ bà Chúa Sứ, thờ Tiền hiền, Hậu hiền,những người có công với dân, với nước). Nhìn chung, tập quán và kỹ năng sống của người dân ĐBSCL đã hình thành bản sắc văn hóa riêng của cư dân sông nước - đó cũng là một dạng tiềm năng du lịch chưa được khai thác nhiều.

Nhìn trên toàn ĐBSCL, có 7 khu vực có thể khai thác du lịch:

Khu vực 1: gồm Thành phố Cần Thơ, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long-có cảnh quan sông nước điển hình của ĐBSCL, tiềm năng là du lịch miệt vườn, sông nước.

Khu vực 2:  ven biển từ Tiền Giang đến Kiên Giang: có các khu rừng ngập mặn, có những khu dự trữ sinh quyển của thế giới. Tiềm năng du lịch sinh thái, tắm biển.

Khu vực 3: vườn quốc gia U Minh thượng, U Minh hạ có những rừng Tràm rộng lớn. Tiềm năng là du lịch sinh thái, cảnh quan, văn hóa     

Khu vực 4: Đồng Tháp Mười (Long An) có những cánh đồng cỏ ngập nước vào mùa lũ. Tiềm năng du lịch sinh thái mùa nước nổi, văn hóa, lịch sử…

Khu vực 5: Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu: đậm nét văn hóa Khmer, Hoa. Tiềm năng du lịch văn hóa, lịch sử và cảnh quan.

Khu vực 6: Bảy núi (An Giang), Hà Tiên (Kiên Giang),có nhiều thắng cảnh độc đáo- vùng núi giữa đồng bằng.Tiềm năng du lịch cảnh quan, hành hương, tâm linh…

Khu vực 7: đảo Phú quốc và các đảo nhỏ ven bờ, có những bãi biển đẹp, san hô, ngọc trai, rừng nguyên sinh. Tiềm năng là du lịch nghỉ dưỡng, cảnh quan, sinh thái.

Về thực trạng hoạt động du lịch ở ĐBSCL được phản ánh qua nhiều nguồn tài liệu như sau:

Hầu như tất cả các tỉnh thuộc ĐBSCL đều có công ty du lịch và các cơ sở nhà hàng khách sạn, đồng thời đã tổ chức “Hiệp hội du lịch ĐBSCL” nhưng thực trạng đã được Bộ VHTTDL đánh giá như sau: trong vòng hơn một thập kỷ qua đã bộc lộ những bất cập: Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất thiếu và xuống cấp (gồm hệ thống GTVT, các cơ sở lưu trú…). Tầm nhìn quy hoạch đầu tư còn thấp, chưa ổn định và thiếu tính lâu dài. Sản phẩm du lịch chưa phong phú và bị trùng lắp. chất lượng sản phẩm thấp, chưa đạt chuẩn. Nguồn nhân lực thiếu và yếu. Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch ra nước ngoài còn nhiều hạn chế. Nhận xét chung là “Phát triển tự phát và manh mún” - chỉ dựa trên cái mình đang có, chưa chú ý đến nhu cầu của du khách. Năm 2008 du khách đến ĐBSCL chỉ chiếm 8%, thu nhập chiếm 2,75%  cả nước(thấp nhất trong các vùng), thời gian luu trú chỉ đạt 1,2 ngày.

Nhóm chuyên gia của dự án “Chương trình Phát triển Năng lực Du lịch có trách nhiệm với Môi trường và Xã hội” (Dự án EU-ESRT) đã có chuyến đi đến ba tỉnh nhằm nghiên cứu hỗ trợ xây dựng sản phẩm du lịch và kế hoạch xúc tiến quảng bá điểm đến của vùng (ngày 28-1, dự án đã tổ chức buổi hội thảo ở Phú Quốc về đẩy mạnh hợp tác phát triển du lịch tại khu vực). Theo thông tin từ dự án, để thu hút du khách, ĐBSCL phải trở thành một điểm đến khác biệt so với những điểm khác của Việt Nam. Du lịch vùng phải tạo cho khách có nhiều nhiều cơ hội trải nghiệm hệ thống kênh rạch sông Mê Kông (theo Thời báo kinh tế Sài Gòn).

Theo kết quả từ chuyến công tác của nhóm chuyên gia du lịch trong nước và quốc tế đến ba tỉnh từ ngày 12 đến 27-1-2015 cho biết: lượng khách chính của vùng vẫn là du khách trong nước với cả chục triệu lượt khách mỗi năm. Khách đông phần lớn là nhờ lượng khách du lịch tâm linh, có thời gian lưu trú và chi tiêu thấp. Du khách mới chỉ xem vùng này là điểm tham quan đơn thuần, thậm chí là một điểm đi thêm trong hành trình của tour nên chỉ ở lại có một ngày. Trong khi đó, để được coi là một điểm đến du lịch thì địa phương phải lưu giữ khách từ 3-5 ngày trở lên.

Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch cho rằng: “Những sản phẩm du lịch đặc thù của vùng ĐBSCL đã được khai thác, nhưng hiện mới ở góc độ địa phương, chứ không phải góc nhìn của toàn vùng. Vấn đề liên kết giữa các vùng cũng đã được đặt ra từ lâu, nhưng không có “nhạc trưởng”, dẫn đến tình trạng khai thác sản phẩm du lịch chồng chéo nhau (PGS. TS Phạm Trung Lương – Viện phó)

Đến thời điểm 2013, Tổng cục du lịch đánh giá thực trạng phát triển của du lịch ĐBSCL như sau: thiếu sản phẩm du lịch đặc trưng, sự liên kết vùng dù đã có nhưng hết sức lỏng lẻo. Điểm yếu lớn nhất của du lịch ĐBSCL là thiếu một “nhạc trưởng”…và không có gì thay đổi nhiều trong suốt thời gian từ năm 2006 đến nay.

Từ thực tế nêu trên cho thấy: nguồn lực du lịch của ĐBSCL không những còn yếu so với tiểu vùng MeKong mà còn là nơi yếu nhất so với các vùng khác trong nước. Nội lực ấy phản ánh vị thế hạn chế khi hợp tác phát triển du lịch với các nước trong tiểu vùng sông MeKong. 

3. Đánh giá khả năng hợp tác phát triển du lịch của ĐBSCL với các nước trong tiểu vùng sông MeKong

Trước khi xem xét khả năng hợp tác phát triển du lịch của ĐBSCL với tiểu vùng Mekong cần tìm hiểu những kịch bản biến đổi khí hậu toàn cầu và chiến lược phát triển du lịch của Việt Nam:

Theo các nhà khoa học Việt Nam, trong vòng 70 năm trở lại đây, nhiệt độ ở Việt Nam đã tăng 0,5 độ C và mực nước biển đã dâng cao thêm 20 cm. Từ năm 1960 đến năm 2000 lượng mưa đã gia tăng gấp đôi (từ 200 lên 400 mm). Tình trạng nhiễm mặn đang gia tăng đáng kể: năm 1998, nước mặn 4% đã vào sâu 45 km làm cho 2/3 diện tích bán đảo Cà Mau bị nhiễm mặn-trong đó 200.000 ha lúa hè thu bị ảnh hưởng, 32% diện tích bị mất trắng.Trong năm 2008, hiện tượng triều cường cao chưa từng có ở TP HCM và Cần Thơ. Cũng trong năm 2008, đã xuất hiện những cơn bão và lốc xoáy quét qua vùng Cà Mau gây thiệt hại khá lớn. Những hiện tượng đó cho thấy biến đổi khí hậu toàn cầu đang ảnh hưởng tiêu cực đến du lịch của vùng ĐBSCL

Bộ VH TT DL đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch ĐBSCL đến 2020-trong đó có các dung như: quy hoạch 4 khu vực du lịch trọng điểm, đề ra các mục tiêu cụ thể, dự kiến các nguồn vốn huy động xây dựng hạ tầng du lịch (ODA, FDI, BOT…), xác định chỉ tiêu đào tạo nguồn nhân lực…

Quy hoạch của Bộ VH TT DL nêu ra ba quan điểm phát triển du lịch ở ĐBSCL như sau:

-Phát triển nhanh, bền vững khai thác hiệu quả các tài nguyên du lịch.

-Phát triển du lịch gắn với bảo tồn các giá trị tự nhiên và văn hóa.

-Phát triển du lịch gắn với xóa đói giảm nghèo

Nhìn lại tất cả các nội của quy hoạch du lịch ở ĐBSCl đến 2020 và ngay cả trong ba quan điểm phát triển nêu trên cũng chưa đặt ra vấn đề hợp tác và liên kết với các quốc gia trong tiểu vùng MeKong-Phải chăng sự liên kết, hợp tác trong tiểu vùng chưa được coi là một biện pháp quan trọng để phát triển du lịch ở ĐBSCL?

Không những vấn đề liên kết với tiểu vùng MeKong chưa được đặt ra cho đến 2020 mà ngay cả sự liên kết giữa các tỉnh trong nội vùng cũng còn rất hạn chế. Tổng cục du lịch nhận định như sau: “thời gian qua du lịch ĐBSCL đã có sự bắt tay liên kết, tuy nhiên chỉ dừng ở mức độ hội nghị, hội thảo, trao đổi thông tin, kinh nghiệm quản lý nhà nước… Do mang nặng tư tưởng “không ai hơn ai”, thiếu tinh thần hợp tác nên các địa phương trong vùng vẫn khai thác du lịch theo kiểu “mạnh ai nấy làm”, dẫn đến việc các địa phương cứ có những sản phẩm du lịch tương tự nhau, còn du khách thì không biết đâu là sản phẩm du lịch đặc thù của vùng ĐBSCL. Bởi vậy, dù sở hữu tiềm năng dồi dào, song du lịch vùng ĐBSCL nhiều năm qua vẫn “dậm chân tại chỗ…”.

Để giải quyết vấn đề khúc mắc này, mới đây, Bộ VHTTDL đã giao cho Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch xây dựng đề án “Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù vùng ĐBSCL” và đề án Thành lập Ban Điều phối phát triển du lịch vùng ĐBSCL. Theo đó, hai đề án sẽ tham mưu cho khu vực ĐBSCL xây dựng hai sản phẩm du lịch đặc thù cấp quốc gia và các sản phẩm du lịch đặc thù cấp vùng, đồng thời xác định vai trò “nhạc trưởng”, điều phối hoạt động du lịch chung của cả vùng ĐBSCL. Ban Điều phối sẽ đóng vai trò nhạc trưởng. Hai Đề án này đã được đưa ra bàn thảo, góp ý 2 lần tại Hà Nội, TP HCM và dự kiến sẽ được bổ sung, hoàn thiện vào cuối năm 2014.(Theo Tổng cục Du Lịch).  Theo đề án “Xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù vùng ĐBSCL”-  toàn vùng sẽ có hai loại sản phẩm là: “Trải nghiệm cuộc sống sông nước của cộng đồng ở hạ nguồn sông Mê Kông” và “Trải nghiệm giá trị sinh thái đất ngập nước hạ nguồn sông Mê Kông”.

Đến 2014 vấn đề xây dựng các sản phẩm “du lịch trải nghiệm” mới được đưa vào “đề án nghiên cứu”-thực ra vấn đề này đã được nêu ra cách đây 5 năm trong cuộc hội thảo du lịch ĐBSCL (tháng 11-2009)- với tham luận: “Du lịch ĐBSCL từ cảm nhận đến ý tưởng về “du lịch trải nghiệm”. Tham luận này có đoạn viết: “Ý tưởng về du lịch trải nghiệm phải dựa trên cơ sở những nét văn hóa, nhân văn độc đáo của ĐBSCL, những gì mà chỉ ở miền tây Nam bộ mới có như: “… chăn vịt chạy đồng ở cách đồng bất tận”, “…đêm nghe chuyện Ba Phi, nghe đờn ca tài tử”, “…làm công tử Bạc liêu”, “…đêm giăng câu ở đồng Tháp mười” … đó  là một vài nét văn hóa tinh thần và cuộc sống lao động đậm nét miền tây…”(bài viết của TS NHN-TT NC kinh tế miền Nam).

Từ những thực tế và số liệu nêu trên có thể thấy: nguồn lực du lịch của ĐBSCL trong tương quan với tiểu vùng Mekong tuy có những nét riêng về giá trị văn hóa, nhân văn của vùng sinh thái ngập nước rộng lớn và quý hiếm của hành tinh. Nhưng phải chăng, do thiếu đầu tư và chậm nghiên cứu nên những nét riêng ấy chưa trở thành thương hiệu du lịch độc đáo của ĐBSCL-vì thế cũng chưa tạo ra lợi thế cạnh tranh và hấp dẫn thu hút sự hợp tác phát triển du lịch trong tiểu vùng sông MeKong…Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải tìm hướng đổi mới du lịch ở ĐBSCL.

4. Đổi mới du lịch ĐBSCL nên bắt đầu từ đâu ?

Ngày nay, kinh phí để xây dựng một sản phẩm du lịch không còn quá khó nhưng để có được ý tưởng mới và thiết kế được tour vừa có sức hấp dẫn vừa có lãi thì khó hơn rất nhiều.

Để thiết kế một sản phẩm du lịch cần có một đội ngũ chuyên gia trình độ cao về nghiệp vụ du lịch, về văn hóa học, sử học... Nhưng để có ý tưởng mới thì không nên chỉ dựa vào đội ngũ chuyên gia trong ngành mà còn phải từ phía khách du lịch vì ý tưởng của họ phản ánh nhu cầu của các nhóm du khách.

Để có thể khai thác được ý tưởng của du khách, hiệp hội du lịch miền tây nên tổ chức những cuộc thi “ý tưởng du lịch ĐBSCL” mở rộng đến mọi tầng lớp nhân dân-kể cả kiều bào và người nước ngoài. Những ý tưởng đó dù khả thi hay không, đều có tác dụng giúp cho ngành du lịch dự đoán được sự thay đổi nhu cầu của du khách đối với vùng đbscl.

Khi đã lựa chọn được một số ý tưởng, trước hết nên thăm dò dư luận bằng các câu hỏi điều tra XHH để có cơ sở lựa chọn những ý tưởng được nhiều người ưa thích nhất và biết được mức độ hưởng ứng của họ. Sau đó nên tổ chức những cuộc thi thiết kế sản phẩm du lịch để chọn phương án tối ưu.

Công đoạn giới thiệu, quảng cáo sản phẩm mới có tầm quan trọng rất lớn vì nếu có tour hấp dẫn mà ít người biết thì tính hiệu quả cũng bị hạn chế. Cách giới thiệu và quảng bá cũng không nên chỉ dựa vào những hình thức truyền thống như in tờ quảng cáo có hình ảnh, chương trình, giá cả… mà có thể bổ xung thêm những hình thức khác như dựng thành những Videoclip, có kịch bản, có diễn viên đóng vai du khách để làm nổi bật những điểm nhấn gây ấn tượng nhất của tour .

Một trong những đổi mới cần thiết nữa là phải xây dựng cơ chế liên kết nội vùng ĐBSCL nhằm tạo ra những sản phẩm đặc trưng- đó là nguồn vốn, là  hàng hóa đưa ra thị trường du lịch của tiểu vùng MeKong để vừa hợp tác vừa cạnh tranh lành mạnh.

***

ĐBSCL là một thành viên trong ủy ban sông MeKong, đã có những hoạt động hợp tác trên nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hóa, môi trường... Nhưng riêng về liên kết, hợp tác phát triển du lịch chưa được chú ý đúng mức. Cụ thể là trong quy hoạch đến 2020 chưa đề cập đến sự hợp tác trong tiểu vùng MeKong-và ngay cả sự liên kết trong nội vùng cũng chua có phương hướng, chưa có “nhạc trưởng”, chưa xác định sản phẩm chủ yếu…Từ thực tế đó đòi hỏi phải đi tìm phương hướng thay đổi thực trạng-trước hết là thay đổi cách nghĩ và cách tổ chức du lịch theo hướng coi liên kết nội vùng và liên vùng là động lực, là giải pháp không thể thiếu trong phát triển du lịch của vùng ĐBSCL


TS. Nguyễn Hữu Nguyên, Trung tâm nghiên cứu chiến lược và chính sách Quốc gia, ĐH KHXH &NV TP HCM

Bài in trong Kỷ yếu hội thảo quốc tế “Phát triển nguồn lực du lịch tiểu vùng song Mekong”, Nxb Thông tin và Truyền thông, 2015, tr 653-659.


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.